Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN SỐ: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-02-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thiểu;
  2. Bà Trần Ánh Nhạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 571/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh;
  2. Bị đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Chị N và anh H xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Võ Văn H chung sống từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có qua tìm hiểu trước, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng sống chung bên gia đình cha mẹ ruột anh H tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 8-2023 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, thường xuyên cãi vã nhau, cả hai không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay, hiện chị đang sống chung vơi gia đình cha mẹ ruột chị tại ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh, còn anh H thì sống chung bên gia đình cha mẹ ruột anh H tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, trong thời gian vợ chồng sống ly thân cả hai không bàn bạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên tình cảm không còn. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 01 con chung Võ Ngọc Gia H1, sinh ngày 01-8-2016, hiện đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn, anh Võ Văn H: Tại biên bản lấy lời khai của đương sự anh H trình bày. Anh thống nhất theo lời trình bày của chị N về quan hệ hôn nhân và mâu thuẩn vợ chồng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay, hiện nay chị N sống chung bên gia đình cha mẹ ruột chị N tại ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh, còn anh đang sống chung bên gia đình cha mẹ ruột anh tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh có đến thăm con, nhưng cả hai không có bàn bạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng, do anh còn thương vợ con. Nay anh yêu cầu được đoàn tụ.

Về con chung: Có 01 con chung hiện đang sống chung với chị N theo chị N trình bày là đúng. Nếu cho cho ly hôn thì anh đồng ý giao con cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, anh không phải cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị N.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác và xin vắng mặt trong vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến khi vào nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Võ Văn H.

Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Gia H1, sinh ngày 01-8-2016 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn chị N và bị đơn anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nên vụ án vẫn được xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2013. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn vợ chồng giữa chị N và anh H do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, thường xuyên cãi vã nhau, cả hai không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8-2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh H có đến thăm con, nhưng cả hai không bàn bạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ cả hai không có thiện chí để vợ chồng được đoàn tụ, nên tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

[2.2] Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Gia H1, sinh ngày 01-8-2016 cho chị N được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2013.

Ghi nhận chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị N và anh H vắng mặt, nên không đặt ra giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.

[3] Về án phí: Chị N phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố Tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Võ Văn H.

Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Gia H1, sinh ngày 01-8-2016 cho chị N được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

Ghi nhận chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ghi nhận chị N đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) từ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000802 ngày 11-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, được khấu trừ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các bên đương sự biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường) và nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Dầu;
  • - UBND xã Bàu Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN TÂM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger