Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAN LỘC

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/05/2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thanh Huyền, bà Nguyễn Thị Diên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Việt Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 26/05/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2025/TLST- HNGĐ ngày 13/02/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hà Huy T; Sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có đơn xin vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Thị Ngọc T1; Sinh năm: 1989; Địa chỉ: Văn phòng luật sư Trần Ngọc T1, số A đường N, tổ dân phố D, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Lương Thị Q; Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ, nguyên đơn Hà Huy T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Huy T và chị Lương Thị Q tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 21/3/2002. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân. Hiện nay, anh T không còn tình cảm với chị Q nên xin được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Hà Huy Q1, sinh ngày 26/4/2003; Hà Thị Hồng N, sinh ngày 06/8/2011 và Hà Thị Anh T2, sinh ngày 23/8/2018. Trong đơn khởi kiện, anh T yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Hà Thị Hồng N và Hà Thị Anh T2 đến tuổi trưởng thành, yêu cầu chị Lương Thị Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Sau đó, tại văn bản đề ngày 10/3/2025, anh T rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hà Huy T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chị Lương Thị Q không có mặt tại địa phương, Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và thông báo qua số điện thoại 0765.010.xxx. Đến ngày 21/5/2025, chị Lương Thị Q đến Tòa án, trình bày như sau:

- Về việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án: Chị Lương Thị Q thừa nhận có được Thẩm phán thông báo qua điện thoại nhưng do đang đi làm xa nên không về được.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Q thừa nhận vợ chồng tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn về chung sống tại nhà ông bà nội ở thôn L, xã T, huyện C sau đó hai vợ chồng đi làm ăn, thỉnh thoảng về địa phương. Đến đầu năm 2024, anh T đánh chị Q nên chị Q bỏ đi, vợ chồng ly thân. Tuy nhiên, chị Q vẫn còn tình cảm với anh T nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Chị Q trình bày vợ chồng có 03 con chung trong đó cháu Hà Huy Q1 đã thành niên. Nếu ly hôn thì chị Q có nguyện vọng nuôi cháu Hà Thị Anh T2.

- Về tài sản chung: Chị Q trình bày vợ chồng có tài sản chung là 01 căn nhà trên đất của ông bà nội tại thôn L, xã T và 01 thửa đất rẫy mua chung ở Đồng Nai. Chị Q có nguyện vọng được chia tài sản chung nếu ly hôn.

Bản luận cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thể hiện: Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Hà Huy T ly hôn chị Lương Thị Q vì hôn nhân đã lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao các con chung cho anh T nuôi dưỡng vì anh T làm thợ xây nhưng có thu nhập ổn định, có chỗ ở ổn định, môi trường sống phù hợp, có ông bà nội hỗ trợ trong việc nuôi con.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T thể hiện: Anh Hà Huy T và chị Lương Thị Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C vào ngày 21/3/2002. Anh T và chị Q đều đăng ký thường trú tại thôn L, xã T nhưng cả hai đều đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về địa phương. Vào dịp Tết Nguyên Đán năm 2025, anh T và chị Q đều về ăn Tết tại địa phương.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc trình bày:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng, đủ, quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Hà Huy T ly hôn chị Lương Thị Q; Giao cháu Hà Thị Hồng N cho anh T nuôi dưỡng, giao cháu Hà Thị Anh T2 cho chị Q nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, không xem xét về cấp dưỡng nuôi con; Không xem xét về chia tài sản chung; Anh T phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Anh Hà Huy T yêu cầu Tòa án cho ly hôn chị Lương Thị Q có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã T, huyện C và giải quyết về quyền nuôi con. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Việc đăng ký kết hôn giữa anh T và chị Q là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn, thực hiện đúng thủ tục. Anh T có quyền yêu cầu ly hôn theo Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét tình trạng hôn nhân thấy rằng: Anh Hà Huy T kiên quyết ly hôn. Còn chị Lương Thị Q tuy không đồng ý ly hôn nhưng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, anh T dùng vũ lực và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024. Chị Q không có phương án hàn gắn tình cảm, xây dựng cuộc sống chung. Như vậy, đời sống chung của vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh T ly hôn chị Q.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung trong đó cháu đầu đã thành niên và có việc làm, không còn phụ thuộc bố mẹ. Anh T có nguyện vọng có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung còn chị Q có nguyện vọng được nuôi 01 con chung (cháu Hà Thị Anh T2). Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh T và chị Q đều là lao động tự do, không có căn cứ khẳng định ai có nguồn thu nhập ổn định và cao hơn ai. Trong khi đó, việc chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha mẹ. Vì vậy giao cháu Hà Thị Hồng N cho anh Hà Huy T và giao cháu Hà Thị Anh T2 cho chị Lương Thị Q nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho cả anh T và chị Q, cũng là để cho các cháu có được chăm sóc tốt nhất.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Q có trình bày về tài sản chung của vợ chồng nhưng không đưa ra sau thời điểm mở phiên tòa lần thứ nhất và không có các tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Các đương sự đều trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1, 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Hà Huy T ly hôn chị Lương Thị Q.
  2. Về con chung: Giao cháu Hà Thị Hồng N, sinh ngày 06/8/2011 cho anh Hà Huy T nuôi dưỡng; giao cháu Hà Thị Anh T2, sinh ngày 23/8/2018 cho chị Lương Thị Q nuôi dưỡng đến khi con thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con.

    Anh Hà Huy T có quyền thăm nom cháu Hà Thị Anh T2, chị Lương Thị Q có quyền thăm nom cháu Hà Thị Hồng N, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Anh Hà Huy T chịu trách nhiệm nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Khấu trừ từ 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006243 ngày 13/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc, anh Hà Huy T phải nộp tiếp 150.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Hà Huy T và chị Lương Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Can Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Can Lộc;
  • - UBND xã Tùng Lộc (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh T ly hôn chị Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger