|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14./2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 6 - 2025
“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Quang Huấn và ông Vi Văn Hải
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 21/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2025/QÐST- HNGĐ ngày 13/6/2025 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. -
- Bị đơn: Anh Ma Tiến L1, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số nhà B, phố C, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ
(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Phương L trình bày:
Tôi và anh Ma Tiến L1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14 tháng 7 năm 2016 tại UBND phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà chồng ở số nhà B, phố N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống do không cùng quan điểm sống với nhau. Từ những mâu thuẫn đó đến nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân được 02 năm nay khoảng từ tháng 1 năm 2023 cho đến nay. Nay tôi xin được ly hôn với anh Ma Tiến L1
Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là cháu Ma Trí T, sinh ngày 01/7/2017. Hiện nay cháu đang ở với mẹ. Sau ly hôn tôi đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Nếu anh L1 đưa bao nhiêu thì tùy thuộc vào khả năng của anh L1, tôi không yêu cầu định mức giới hạn.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Ma Tiến Phúc B đẻ của anh Ma Tiến L1, ông P trình bày:
Chị Nguyễn Thị Phương L và anh Ma Tiến L1 đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/7/2016 tại UBND phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn sống tại phố C, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, sau đó lại chuyển vào sống tại xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình chung sống, chị L và anh L1 có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Hiện chị L và anh L1 đã sống ly thân được khoảng 2-3 năm nay. Khi chị L và anh L1 xảy ra mâu thuẫn, tôi cũng đã vào nhà bố mẹ đẻ của chị L để nói chuyện hòa giải nhưng không được. Nay chị L xin ly hôn anh L1, đây là việc của hai cháu, tôi không liên quan, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị L và anh L1 có 01 con chung là cháu Ma Trí T, sinh ngày 01/7/2017 hiện cháu đang ở cùng chị L. Nếu ly hôn, chị L hay anh L1 nêu đều được vì cháu T là con chung của hai anh chị, anh chị phải có trách nhiệm.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký Tòa án và của HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của Pháp luật.
Anh Ma Tiến L1 (bị đơn) đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị HĐXX Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, điều 56, điều 58, điều 81, điều 82 điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương L được ly hôn anh Ma Tiến L1.
2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Phương L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ma Trí T, sinh ngày 01/7/2017 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này.
3. Về tài sản chung:, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Chị L xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết; Anh Ma Tiến L1 vắng mặt không có lời trình bày nên các quan hệ trên cần tách ra khi nào có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp xin ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phương L và anh Ma Tiến L1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh L1 có hộ khẩu thường trú tại phố C, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh L1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do; chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn( chị L) và bị đơn (anh L1) là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ lời khai của các đương sự và xác minh tại chính quyền địa phương Chị L và anh L1 đã đăng ký kết hôn ngày 14/7/2016 tại UBND phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, trên tinh thần tự nguyện hợp pháp. Hôn nhân của chị L và anh L1 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị L và anh L1 đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay. Có thể thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh L1 mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh L1 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ma Trí T, sinh ngày 01/7/2017. Hiện nay cháu đang ở với chị L. Chị L mong muốn được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng, còn anh L1 không đến Tòa án làm việc nên không biết quan điểm của anh L1 về con chung như thế nào. Tòa án đã lấy ý kiến của bố anh L1, bố anh L1 đề nghị Tòa án giao con chung cho anh L1 hay chị L đều được nhưng anh chị phải có trách nhiệm với con chung. Trong quá trình giải quyết chị L chứng minh được thu nhập, điều kiện nuôi con chung. Đồng thời cháu T cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy cần giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh L1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.
* Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia định: Chị L xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết; Anh Ma Tiến L1 vắng mặt không có lời trình bày nên các quan hệ trên cần tách ra khi nào có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương L phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Phương L được ly hôn anh Ma Tiến L1
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Phương L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Ma Trí T, sinh ngày 01/7/2017 cho đến khi con chung thành niên. Anh L1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng do chị L không yêu cầu. Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002757 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Ngọc Hà |
Bản án số 14./2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 14./2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
