Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Duy Quyết.
Ông Hoàng Quốc Trị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Lan A, sinh năm 1987; nơi cư trú: Phố M, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Bùi Trung B, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Phố M, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- Người tham gia tố tụng khác - Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị L; nơi cư trú: phố M, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
  • + Ông Phan Quốc U và bà Nguyễn Thị K; nơi cư trú: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn chị Lan A; bị đơn anh B vắng mặt lần thứ 2 không có lý do; những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2025, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Lan A trình bày: chị và anh B tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 03/02/2012, tại UBND thị trấn M (nay là thị trấn T), huyện G, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống tại phố M, thị trấn T, huyện G. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, không tìm được tiếng nói chung, chị Lan A nghi ngờ anh B có quan hệ ngoài vợ ngoài chồng với người phụ nữ khác, do đó chị Lan A và anh B thường xuyên xảy ra việc to tiếng, xô sát, va chạm với nhau. Mâu thuẫn đã được hai vợ chồng tìm cách khắc phục, được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được mà ngày càng nặng nề. Tháng 7/2024 chị Lan A đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh B. Sau đó để cho vợ chồng có cơ hội đoàn tụ hàn gắn mâu thuẫn nên chị Lan A đã rút đơn khởi kiện và TAND huyện Gia Viễn đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên sau đó mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Lan A và anh B vẫn không khắc phục được, chị Lan A và anh B đã sống ly thân hoàn toàn từ tháng 7/2024 cho đến nay, chị và anh B không còn quan tâm, quan hệ gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị Phan Thị Lan A đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Bùi Trung B.

Về con chung: Chị Lan A xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Minh A1, sinh ngày 23/12/2013. Nay ly hôn chị Lan A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung đến khi cháu trưởng thành. Chị Lan A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng nhưng anh Bùi Trung B không đến Toà án làm việc.

Toà án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ và tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ anh B trình bầy tại biên bản làm việc ngày 09/5/2025, bà L cung cấp: chị Lan A và anh B có đăng ký kết hôn và được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2012. Trong thời gian chung sống anh B và chị Lan A sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Hai bên gia đình nội ngoại đã ngồi lại với nhau để khuyên giải hai vợ chồng. Nay chị Lan A và anh B giải quyết ly hôn bà không có ý kiến gì. Vợ chồng chị Lan A và anh B có 01 con chung là cháu Bùi Minh A1, sinh năm 2013; hiện nay cháu đang ở cùng bố mẹ.

Tại bản trình bày của ông Phan Quốc U và bà Nguyễn Thị K là bố mẹ đẻ của chị Lan A cung cấp: anh B và chị Lan A lấy nhau là do hai bên tự tìm hiểu, đăng ký kết hôn theo quy dinh cùa pháp luật và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới truyền thống vào năm 2012. Trong quá trình chung sống chị Lan A và anh B hoà thuận hạnh phúc được một thời gian khá dài, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh trầm trọng mà chúng tôi biết được là khoảng 2 năm nay. Nguyên nhân do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, anh B và chị Lan A hay to tiếng cãi co nhau, đôi lúc xô xát va chạm gây ảnh hưởng tối con cái; cả hai đã nhiều lần nhờ bố me hai bên giải quyết mâu thuẫn nhưng không được. Hiện nay, chị Lan A làm đơn xin ly hôn với anh B quan điểm của chúng tôi là không muốn các con phải tan vỡ nhưng nếu chị Lan A kiên quyết thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh B và chị Lan A có một con chung là cháu Bùi Minh A1, sinh năm 2013. Chị Lan A kinh doanh tiệm thuốc có thu nhập ổn định và có đủ các điều kiện đề nuôi dậy chăm sóc con chung. Về tài sản chung và công nợ chung: ông bà không biết vợ chồng có những gi.

Tiến hành xác minh tại UBND thị trấn T, đại diện UBND thị trấn T, đại diện Công an thị trấn, Chi hội trưởng hội phụ nữ phố Mới và tổ trưởng tổ dân phố Mới xác nhận tại biên bản xác minh ngày 06/5/2025: Anh B và chị Lan A được tự do tìm hiểu và kết hôn hợp pháp với nhau vào ngày 03/02/2012 tại UBND thị trấn M (nay là thị trấn T), huyện G, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2012, quyển số 01. Quá trình chung sống anh B và chị Lan A phát sinh mâu thuẫn như nào thì đại diện cơ sở không biết, Anh B và chị Lan A cũng không nhờ tới đại diện tổ dân phố tiến hành hòa giải. Hiện nay anh B và chị Lan A đều đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại phố M, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Anh chị luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không vi phạm nghĩa vụ làm cha mẹ và không có vi phạm gì. Bản thân anh B và chị Lan A đều có khả năng tạo ra thu nhập để nuôi dưỡng con chung. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Minh A1, sinh ngày 23/12/2013.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành lập biên bản làm việc ngày 09/5/2025 tại Công an xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, là nơi anh B đang công tác ghi nhận việc anh B từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, từ chối làm việc để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị Lan A có mặt, bị đơn anh Bùi Trung B vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:

  • Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Xử: Cho chị Phan Thị Lan A được ly hôn anh Bùi Trung B.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Minh A1, sinh ngày 23/12/2013 cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với chị Lan A.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí: Chị Lan A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Lan A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn (Biên lai số 0000826 ngày 07/3/2025).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Lan A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Ly hôn với bị đơn là anh Bùi Trung B có nơi cư trú tại: phố M, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177; Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Bùi Trung B. Anh Bùi Trung B vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh Bùi Trung B vắng mặt không có lý do lần thứ 2 tại phiên tòa, chị Phan Thị Lan A có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phan Thị Lan A và anh Bùi Trung B được tự do tìm hiểu, tự nguyên kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M ( nay là thị trấn T), huyện G, tỉnh Ninh Bình; việc kết hôn của chị Lan A với anh B đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị Phan Thị Lan A và anh Bùi Trung B là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thì quá trình chung sống chị Lan A và anh B hạnh phúc được thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tin tưởng nhau về các mối quan hệ tình cảm; do đó chị Lan A và anh B thường xuyên xảy ra việc cãi, chửi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mặc dù hai vợ chồng cùng hai bên gia đình tìm cách khắc phục giải quyết mâu thuẫn nhưng không cải thiện được mà ngày càng nặng nề. Tháng 7/2024 mâu thuẫn căng thẳng, chị Lan A đã một lần làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh B, sau khi được Tòa án hòa giải, để cho vợ chồng có cơ hội đoàn tụ hàn gắn mâu thuẫn nên sau đó chị Lan A đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên sau khi chị Lan A rút đơn khởi kiện thì mâu thuẫn giữa chị và anh B vẫn không được giải quyết. Chị Lan A trình bày chị và anh B đã sống ly thân hoàn toàn từ tháng 7/2024 cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm gì đến ai, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, chị Lan A không còn tình cảm yêu thương với anh B nữa.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh B không đến làm việc. Tòa án đã đến nơi làm việc của anh B để giao các văn bản tố tụng và làm việc tuy nhiên anh B từ chối nhận văn bản tố tụng, từ chối làm việc với Tòa án. Điều đó thể hiện anh B không có thiện chí để Tòa án hòa giải hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị Lan A.

Người làm chứng là ông Phan Quốc U, bà Nguyễn Thị K là bố mẹ đẻ của chị Lan A, bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ anh B đều xác định giữa vợ chồng anh B và chị Lan A có mâu thuẫn, hai bên gia đình đã cùng vợ chồng chị Lan A, anh B tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không được.

Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Phan Thị Lan A và anh Bùi Trung B đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Lan A.

[3] Về con chung:

Qua lời khai của chị Phan Thị Lan A và quá trình Toà án giải quyết vụ án đã xác định chị và anh B có 01 con chung là cháu Bùi Minh A1, sinh ngày 23/12/2013. Nay ly hôn chị Lan A đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi cháu trưởng thành.

Về cấp dưỡng cho con: chị Lan A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh B đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh B không đến Tòa án làm việc, nên không có quan điểm gì về vấn đề con chung và vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, chị Lan A và anh B đều không vi phạm nghĩa vụ làm cha mẹ. Chị Lan A hiện nay đang làm kinh doanh cửa hàng thuốc tại gia đình, có chỗ ở và thu nhập ổn định, có thể đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Cháu Minh A1 hiện đã trên 07 tuổi, cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo cho cháu Minh A1 phát triển ổn định, toàn diện về thể chất, tinh thần, cần giao cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành. Chị Lan A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là tự nguyện, cần chấp nhận.

[4] Về tài sản và công nợ chung: chị Lan A không đề nghị Tòa án giải quyết, anh B vắng mặt không có ý kiến quan điểm gì về tài sản chung và công nợ chung. Vì vậy, Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

[5] Về án phí: Chị Phan Thị Lan A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Lan A.

  1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phan Thị Lan A được ly hôn anh Bùi Trung B.
  2. Về con chung: Giao cháu Bùi Minh A1, sinh ngày 23/12/2013 cho chị Phan Thị Lan A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Bùi Trung B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Phan Thị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lan A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Lan A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn (Biên lai số 0000826 ngày 07/3/2025).

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/6/2025. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - UBND thị trấn Thịnh Vượng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger