|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/3/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Gái
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Minh Huyền và bà Mai Tường Vi
Thư ký phiên tòa: bà Đào Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 157/2024/TLST- HNGĐ ngày 18/11/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06/3/2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: chị Vũ Thị H, sinh năm: 1991.
Nơi cư trú: tổ D, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Kế toán; vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
-
Bị đơn: anh Trần Mạnh H1, sinh năm: 1984.
Nơi cư trú: tổ G, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lái xe (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 18/9/2024, tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vũ Thị H đều trình bày: Tôi với anh Trần Mạnh H1 kết hôn hợp pháp vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh do tự nguyện, trước khi kết hôn chúng tôi có thời gian tìm hiểu nhau 01 năm. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống cùng gia đình bên chồng tại tổ G, khu A, phường C, thành phố C; vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chúng tôi có sự hiểu nhầm dẫn đến vợ chồng cãi vã từ những chuyện sinh hoạt nhỏ trong cuộc sống, phần nữa do áp lực cuộc sống khiến hai vợ chồng thường xuyên cãi vã căng thẳng, nóng nảy phát sinh làm tổn thương và không còn tôn trọng nhau, chúng tôi đã sống ly thân nhau 4 năm, mâu thuẫn vợ chồng tôi đã quá căng thẳng, trầm trọng không thể cải thiện được, chúng tôi cũng đã cố gắng khắc phục nhưng không hàn gắn được, nay vì lý do việc riêng không thể có mặt tại phiên tòa chị Vũ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xin được ly hôn anh Trần Mạnh H1.
Về con chung: chị Vũ Thị H và anh Trần Mạnh H1 có 01 con chung là Trần Thế H2, sinh ngày 15/6/2016, khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: chị Vũ Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Mạnh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, anh H1 cũng không có ý kiến để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án cũng không nhận được ý kiến nào từ anh H1 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Mạnh H1.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tiến hành xác minh tại nơi cư trú, tại địa bàn phường C xác nhận anh Trần Mạnh H1 và chị Vũ Thị H chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính chất chất công việc nên hai bên không dành thời gian trao đổi, nói chuyện, không quan tâm, chia sẻ trách nhiệm cùng nhau, anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Tại nơi cư trú địa bàn phường C, thành phố C cho biết: anh H1 và chị H kết hôn hợp pháp năm 2014, sau đó sống chung cùng gia đình chồng tại đây, đến năm 2019 anh chị về chung sống cùng gia đình ngoại tại phường C do mẹ chị H ốm không có người chăm sóc, được 01 năm thì anh H1 trở về gia đình nội sống, từ năm 2020 đến nay hai anh chị không sống cùng nhau, không quan tâm đến nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Vũ Thị H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Anh Trần Mạnh H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị H, căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Tuyên xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H; về con chung giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Thế H2, sinh ngày 15/6/2016 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), anh H1 không phải cấp dưỡng cho con chung.
Về tài sản chung: chị Vũ Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung; về nợ chung: không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Mạnh H1 có đăng ký cư trú tại thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Vũ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Trần Mạnh H1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Mạnh H1 là hôn nhân hợp pháp, hai anh chị kết hôn hợp pháp vào năm 2014 tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh do tự nguyện, trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau 1 năm.
Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị Hương H3 chung sống hòa thuận tại gia đình bên chồng ở phường C, thành phố C, đến năm 2019 vợ chồng về phường C sống cùng gia đình bên vợ, anh chị chung sống đến năm 2020 do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, trầm trọng nên anh H3 đã về sống với gia đình nội tại phường C, thành phố C, từ năm 2020 anh chị sống ly thân, từ đó cả hai bên không quan tâm đến nhau, nay mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Mạnh H1 đã quá căng thẳng trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, quá trình giải quyết vụ án anh Trần Mạnh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh đều vắng mặt nên không có cơ sở để hòa giải cho anh chị đoàn tụ, Tòa án cũng không nhận được ý kiến, quan điểm nào của anh H1 nên không có cơ sở bảo vệ quyền lợi cho anh; xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H đối với anh Trần Mạnh H1 là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: chị Vũ Thị H và anh Trần Mạnh H1 có 01 con chung là Trần Thế H2, sinh ngày 15/6/2016; hiện con chung Trần Thế H2 đang sống cùng chị H tại gia đình ngoại và theo học tại trường Tiểu học C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng cho con; xét thấy yêu cầu nuôi con của chị H là phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của hai bên đương sự nên chấp nhận.
Về tài sản chung: chị Vũ Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án đề cập giải quyết.
[3] Về án phí: chị Vũ Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H; chị Vũ Thị H được ly hôn anh Trần Mạnh H1.
Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Thế H2, sinh ngày 15/6/2016 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Trần Mạnh H1 không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: chị Vũ Thị H xác định vợ chồng không có tài sản chung; nợ chung: không có nên không đề cập.
Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002496 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn chị Vũ Thị H và bị đơn anh Trần Mạnh H1 đều vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Gái |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
