|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 6 - 2025 “V/v Ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Ông Trần Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham
gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu T1, sinh năm 2000; Số CCCD: [...]; Trú tại: K P, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Tự Thanh T2, sinh năm 1998; CCCD số [...]; Trú tại: K L, tổ A, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Phạm Thị Thu T1 trình bày: Bà và ông Lê Tự Thanh T2 kết hôn với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận N, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ chồng tại tổ A, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng được khoản 02 đến 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã. Bản thân ông T2 không tu chí làm ăn mà tụ tập bạn bè sử dụng chất kích thích thậm chí còn đánh đập vợ. Vì cuộc sống hôn nhân bất đồng nên từ tháng 7/2023 bà đã cùng con về nhà cha mẹ rội tại K P, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng để sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm hay có trách nhiệm gì với nhau.
Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Tự Thanh T2
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Hoàng Gia H, sinh ngày 03/7/2019, hiện nay con chung đang ở với bà nên ly hôn bà đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T2 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Tự Thanh T2 đồng thời đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để động viên vợ chồng về chung sống với nhau nhưng ông T2 không tham gia và cũng không có ý kiến phản hồi về vụ án.
* Biên bản xác minh ngày 23/5/2025 tại tổ dân phố số A, phường K, quận N thể hiện: Ông Lê Tự Thanh T2 có cư trú tại địa phương, tuy nhiên về tình trạng quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm. Hiện nay ông T2 và bà T1 không ở chung với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các bước tố tụng. Bị đơn Lê Tự Thanh T2 đã được thông báo về vụ án, tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không đến Tòa án, không có văn bản trình bày. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thu T1 với ông Lê Tự Thanh T2 đã đến mức trầm trọng, hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau. Sau khi được thông báo về vụ án, ông T2 không liên hệ với Tòa án để phản hồi hay trình bày mong muốn được đoàn tụ gia đình mà bỏ mặc. Hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau và tại phiên tòa bà T1 vẫn kiên quyết ly hôn, thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu T1, cho bà được ly hôn với ông Lê Tự Thanh T2 và giao con chung cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông T2 không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn đều xác định không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu, yêu cầu của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về các vấn đề của vụ án như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn Lê Tự Thanh T2 cư trú tại tổ A, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, gửi đầy đủ các văn bản tố tụng cho các bên đương sự, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án và không có ý kiến phản hồi. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu T1 và ông Lê Tự Thanh T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi chung sống được 02 đến 03 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, theo bà T1 xác định nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, bạo lực gia đình, hiện vợ chồng không còn chung sống cùng nhau. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã gửi văn bản thông báo, mời lên hòa giải và triệu tập tham gia các phiên tòa nhưng ông Lê Tự Thanh T2 đều không tham gia, điều này thể hiện ông không còn thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện vợ chồng bà T1, ông T2 không còn chung sống với nhau. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã động viên để vợ chồng về chung sống, cùng nuôi dạy con cái nhưng bà T1 không đồng ý. Điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1, cho bà được ly hôn với ông Lê Tự Thanh T2 như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[2.2] Về con chung: Giữa bà T1, ông T2 có 01 con chung là Lê Hoàng Gia H, sinh ngày 03/7/2019. Hiện con chung chưa đủ 06 tuổi và đang ở với bà T1 tại K P, phường M, quận S. Ly hôn, nguyện vọng của bà T1 là muốn được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng. Xét nguyện vọng này là chính đáng, con chung đang vẫn đang ở với bà T1 tại quận S và trong vụ án này ông T2 cũng không có tranh chấp gì về vấn đề con chung. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung Lê Hoàng Gia H cho bà Phạm Thị Thu T1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Tự Thanh T2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn được thực hiện theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu T1 đối với ông Lê Tự Thanh T2 về việc ly hôn và nuôi con chung.
* Xử:
- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu T1 được ly hôn với ông Lê Tự Thanh T2.
- Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Gia H, sinh ngày 03/7/2019 cho bà Phạm Thị Thu T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Tự Thanh T2 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày không có nên không xem xét.
- Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Phạm Thị Thu T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà T1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003743 ngày 11/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (Bà T1 đã nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Công Quốc |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa Phạm Thị Thu T và Lê Tự Thanh T
