|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-3-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và bà Mai Thị Huyền Trang
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 306/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST–HNGĐ, ngày 27/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Huỳnh Võ Hoàng A – Sinh năm: 1990 - Có mặt.
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: ông Lê Thanh H – Sinh năm: 1990 – Có mặt.
Địa chỉ: khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 30/9/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Võ Hoàng A trình bày:
Về hôn nhân: Bà A và ông Lê Thanh H kết hôn tự nguyện năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P theo giấy chứng nhận kết hôn số 186 ngày 16/8/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H nghi nghờ bà A ngoại tình và hai người con không phải là con ruột của ông H. Từ sự nghi ngờ không có căn cứ, ông H có lời nói và hành động không chuẩn mực, hậu quả làm bà A bị khủng hoảng về tâm lý và không còn chung sống với ông H từ tháng 6/2024 cho đến nay. Trong thời gian sống cách xa nhau, không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về chung sống với ông H nên khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho bà A được ly hôn với ông H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có hai con chung là Lê Bảo K, sinh ngày 09/11/2019; Lê Đan V, sinh ngày 20/11/2022. Từ trước tới nay, ông H đi làm xa nha, bà A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Từ khi sống cách xa nhau (06/2024) đến nay, bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Khi ly hôn, bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu ông H phải chu cấp tiền nuôi con. Hiện nay bà A đang làm công việc buôn bán tạp hóa và đầu tư nuôi trồng thủy sản, thu nhập trung bình từ 15 đến 20 triệu đồng một tháng.
- Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: ông H trình bày do tính chất công việc, thường xuyên phải đi làm xa nhà nên ông có nghi ngờ bà A ngoại tình và hai người con không phải con của ông H. Từ sự nghi ngờ và do áp lực công việc nên ông có những lời nói và hành động không chuẩn mực với bà A. Hậu quả bà A về nhà cha mẹ đẻ sinh sống từ tháng 6/2024 cho đến nay. Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A vì cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức phải ly hôn.
Về con chung: Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn ông H yêu cầu được nuôi hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông H chưa đi làm, mọi chi phí sinh hoạt của ông H từ nguồn vay của cha, mẹ.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” của nguyên đơn bà Huỳnh Võ Hoàng A và ông Lê Thanh H. Giao các con chung cho bà A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà A phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét yêu cầu của bà Huỳnh Võ Hoàng A yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thanh H thấy:
Căn cứ lời khai nhận của các đương sự tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định: Trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp, ông H và bà A có xảy ra mâu thuẫn, dẫn tới không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2024 cho đến nay. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc ông H thường xuyên đi làm xa nhà nên nghi ngờ bà A ngoại tình và cho rằng hai người con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải con đẻ của ông H. Từ lý do trên, ông H có những lời lẽ, hành động không chuẩn mực với bà A dẫn tới bà A bỏ về nhà cha mẹ đẻ sinh sống từ tháng 6/2024 cho đến nay. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xét ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng là không có căn cứ chấp nhận bởi lẽ:
Tại Điều 4 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình có hướng dẫn như sau:
Điều 4. Ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định tại khoản 1 Điều 56
của Luật Hôn nhân và gia đình
1. “Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình” là vợ, chồng có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định như sau:
Điều 3. Hành vi bạo lực gia đình
1. Hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
- b) Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- d) Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em”;
Như đã phân tích ở trên, ông H thừa nhận việc ông H nghi ngờ bà A ngoại tình và 02 con trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp không phải con đẻ của ông H, nhưng không có chứng cứ chứng minh. Từ sự nghi ngờ đó, dẫn tới ông H có những lời nói, hành động không đúng chuẩn mực với bà A, hậu quả vợ chồng tự ý sống cách xa nhau; Tại phiên tòa ông H thừa nhận từ khi vợ chồng sống cách xa nhau (tháng 6/2024) cho đến nay, ông H không chu cấp tiền nuôi dưỡng các con chung (đang là trẻ em) và bà A trong lúc bà A đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (cháu Lê Đan V, sinh ngày 20/11/2022). Đây là các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
Từ sự phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thấy rằng việc bà A yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.
[2]. Xét yêu cầu của bà Huỳnh Võ Hoàng A yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung khi ly hôn thấy:
Tại phiên tòa các đương sự không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con khi ly hôn. Việc giao con cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét cháu Lê Đan V, sinh ngày 20/11/2022 tính đến thời điểm xé xử, cháu chưa đủ 36 tháng tuổi, bà A đủ điều kiện nuôi con nên được giao cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Xét cháu Lê Bảo K, sinh ngày 09/11/2019 (06 tuổi), từ khi sinh con ra do tính chất công việc ông H thường xuyên phải đi làm xa nhà nên việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung phần nhiều là do bà A đảm nhận nên bà A biết rõ thói quen sinh hoạt và các điều kiện khác đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Thời điểm hiện tại, bà A đủ điều kiện nuôi con nên giao con chung cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu.
Đối với ông H, thời điểm hiện tại không có việc làm tạo ra thu nhập, mọi chi phí sinh hoạt phải nhờ sự trợ giúp của cha, mẹ. Mặt khác, trong thời gian chung sống, ông H có thời gian nghi ngờ 02 người con không phải là con đẻ của ông H nên việc giao con cho ông H nuôi dưỡng là không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đã được Tòa án giải thích nhưng bà A không có yêu cầu nên không xem xét.
Về quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của người không trực tiếp nuôi con thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận cho bà Huỳnh Võ Hoàng A được ly hôn với ông Lê Thanh H.
- Giao con chung là cháu: Lê Bảo K, sinh ngày 09/11/2019; Lê Đan V, sinh ngày 20/11/2022 cho bà Huỳnh Võ Hoàng A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: bà Huỳnh Võ Hoàng A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Huỳnh Võ Hoàng A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004636 ngày 16/10/2024, bà Huỳnh Võ Hoàng A đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 21/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Tùng |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
