Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ- ST

Ngày 20/11/2025

“V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hào và bà Phan Thị Mấy

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Thanh Hóa;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên;

Vào ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 45/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Lê Thị Xuân - Sinh năm: 1979

    Số CCCD [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 16/12/2021.

    Nơi đăng ký thường trú: Bản Cổi Khiêu, xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/11/2025).

  • Bị đơn: Anh Đinh Hữu Viên - Sinh năm: 1979

    Số CCCD [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 30/03/2018.

    Nơi đăng ký thường trú: Bản Cổi Khiêu, xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/11/2025).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Lê Thị Xuân trình bày:

Về hôn nhân:

Chị và ông Đinh Hữu Viên chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc; được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương và không có đăng kí kết hôn. Sau khi kết hôn, chị và anh Viên về chung sống tại Bản Cổi Khiêu, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá (Nay là Bản Cổi Khiêu, xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Tuy nhiên đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Chị và anh Viên đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, chị xét thấy tình cảm không còn nên chị đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Đinh Hữu Viên

Về con chung:

Trong thời gian chung sống như vợ chồng có 01 con chung tên là Đinh Thị Diệu Linh - sinh ngày 18/07/2011. Nay ly hôn, chị Xuân có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Linh cho đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh Viên cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản:

Chị Xuân Đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng gồm diện tích đất 210m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 244204 do Uỷ ban nhân dân huyện Quan Hoá (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Hồi Xuân) cấp ngày 16/10/2012, tại thửa đất số 29b, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thửa đất: Bản Cổi, xã Xuân Phú, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá (Nay là bản Cổi Khiêu, xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hoá) và tài sản trên đất là 01 căn nhà 01 tầng; 01 Khu trang trại

Về công, nợ chung:

Vợ chồng nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK) số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng), lãi suất 10,5%/01 năm. Chị Xuân đề nghị giải quyết buộc mỗi người trả ½ số nợ cả gốc và lãi cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK).

Ngày 24/10/2025, chị Xuân có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu chia tài sản chung, công, nợ chung. Do hai vợ chồng đã tự thoả thuận được với nhau và không đề nghị Toà án giải quyết.

Theo bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đinh Hữu Viên trình bày:

Về hôn nhân:

Anh và chị Lê Thị Xuân chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc; được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương nhưng không đi đăng kí kết hôn. Anh và chị Xuân sau đó về chung sống hạnh phúc tại Bản Cổi Khiêu, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá (Nay là Bản Cổi Khiêu, xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Đến khoảng năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh và chị Xuân sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay anh xét thấy tình cảm không còn nên anh Viên đồng ý với yêu cầu của chị Xuân, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 13 – Thanh Hoá không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Xuân.

Về con chung:

Trong thời gian chung sống, anh và chị Xuân có 01 con chung tên là Đinh Thị Diệu Linh, sinh ngày 18/07/2011. Nay ly hôn, anh Viên đồng ý giao cháu Linh cho chị Xuân trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) và anh Viên không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản và công nợ chung:

Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc chị Xuân và anh Viên chung sống như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn. Đây là trường hợp không được hoà giải theo quy định tại khoản 2 điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Chị Xuân và anh Viên đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Xuân và anh Viên.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ vào Khoản 1 điều 14, điều 15, khoản 2 điều 53, điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28, khoản 2 điều 206, khoản 2 Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ - QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Xuân và anh Viên. Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Thị Diệu Linh - sinh ngày 18/07/2011 cho chị Lê Thị Xuân trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi), anh Viên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ chung: Chị Xuân đã có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tài sản và công nợ chung nên đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu đã rút. Về án phí: chị Xuân phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho chị Xuân số tiền tạm ứng án phí về việc phân chia tài sản chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Xuân và anh Đinh Hữu Viên đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 2010 nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống nảy sinh nhiều bất đồng, không hoà hợp được. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau. Vì thế, từ năm 2021 hai anh chị đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng lên đến đỉnh điểm khi đầu tháng 10/2025, anh Viên đã đuổi chị Xuân ra khỏi nhà và đốt quần áo của chị Xuân. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời khai của các đương sự và xác minh tại địa phương. Cả chị Xuân và anh Viên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đều đồng ý ly hôn. Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 điều 28 BLTTDS. Xét thấy, chị Xuân và anh Viên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, cần căn cứ khoản 1 điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình và hướng dẫn tại điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/ NQ - QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Xuân và anh Viên.

  2. [2] Về con chung: Chị Xuân và anh Viên có 01 con chung tên là Đinh Thị Diệu Linh, sinh ngày 18/07/2011. Nay ly hôn chị Xuân có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Linh cho đến khi đủ tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Xét hoàn cảnh thực tế cháu Linh có nguyện vọng được ở cùng mẹ, anh Viên đồng ý giao cháu Linh cho chị Xuân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Xuân, giao cháu Linh cho chị Xuân trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, giới tính, nguyện vọng của các bên và các quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, chị Xuân và anh Viên đều thống nhất anh Viên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. [3] Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án ngày 24/10/2025 chị Xuân có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc giải quyết phần tài sản chung và công nợ chung. Bị đơn và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chi nhánh Quan Hóa không có yêu cầu gì đối với vấn đề nợ chung. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút là phù hợp pháp luật.

  4. [4] Về án phí: Chị Lê Thị Xuân phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Số tiền này bằng 300.000 đồng. Trả lại cho chị Xuân số tiền tạm ứng án phí về việc phân chia tài sản chung do chị Xuân đã rút yêu cầu này. Số tiền này bằng 10.600.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • * Căn cứ vào: Khoản 1 điều 14, điều 15, khoản 2 điều 53, điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28, khoản 2 điều 206, khoản 2 Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ - QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

  • * Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị Xuân và anh Đinh Hữu Viên.

  • * Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Diệu Linh, sinh ngày 18/07/2011 cho chị Xuân trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh Viên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Viên có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

  • * Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phân chia tài sản chung và công nợ chung của chị Lê Thị Xuân.

  • * Án phí: Chị Xuân phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Xuân đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/25E/0001021 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị Xuân được nhận lại 10.600.000đ (Mười triệu sáu trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Xuân và anh Viên. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 13 - Thanh Hóa;
  • - VKSND T.Thanh Hóa;
  • - TAND T.Thanh Hóa;
  • - THADS T.Thanh Hóa;
  • - UBND X.Hồi Xuân, T.Thanh Hoá.
  • - Lưu HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Văn Hùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Hoàng Văn Hào




Phan Thị Mấy




Phạm Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ- ST ngày 20/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger