|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-3-2025
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Kỳ Trung.
Bà Nguyễn Thị Liêm.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Nghĩa- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 28/2025/TLST-HNGĐDS ngày 16 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1934. Địa chỉ: ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, vắng mặt.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1939. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và qua các lần làm việc, nguyên đơn ông Lê Văn S trình bày: Ông và vợ ông là bà Nguyễn Thị L sống chung với nhau vào khoảng năm 1961-1962, do thời đó là chiến tranh nên ông bà không có đăng ký kết hôn, cũng không làm lễ gì cả, vợ chồng tự đến với nhau trên tinh thần tự nguyện. Vợ chồng sống chung nhà với cha mẹ ông.
Vợ chồng chung sống không có con chung, không tài sản và cũng không có nợ chung.
Vợ chồng chung sống được 02 năm, trong 01 lần pháo kích hướng huyện Đ bắn vô ấp B (ranh giới giữa Campuchia và Việt Nam), trúng nóc nhà và chuồng trâu nhà ông, vợ ông sợ nên bỏ đi luôn và không quay về nữa. Lúc đó không biết vợ ông đi đâu nên cũng không đi tìm.
Khoảng năm 1973, ông có vợ khác và sống chung cho đến nay, vợ chồng ông có 02 con chung. Ông với vợ sau chung sống cũng không có đăng ký kết hôn.
Trong thời gian chung sống với vợ sau, ông có tạo có tài sản là quyền sử dụng khoảng 01 ha đất ruộng và 200 m² đất thổ cư.
Nay do tuổi già, sức yếu, ông cần bán 01 phần đất để dưỡng già và 01 phần ông chia cho các con. Nhưng khi đi làm thủ tục chia tách thì không được, do địa phương nơi ông sinh sống cho rằng ông có thời gian sống với bà L nên yêu cầu ông phải làm thủ tục ly hôn với bà L trước, sau đó họ mới có thể làm các thủ tục chia và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo nguyện vọng của ông được.
Do bị vướng thủ tục này nên ông làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Tất cả đều không có nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông S về vấn đề hôn nhân (về thời gian ông bà chung sống và việc chung sống không có đăng ký kết hôn); về con chung, tài sản chung và về nợ chung (tất cả đều không có) là đúng.
Do cuộc sống không ổn định và không đảm bảo toàn, do chiến tranh nơi nhà ông S thường xuyên bị pháo kích nên bà bỏ đi sau khoảng 02 năm chung sống. Sau giải phóng bà có chồng khác và có con chung với chồng sau, bà với chồng sau chung sống không có đăng ký kết hôn. Gần đây ông S có nhờ người liên lạc lại với bà và đề nghị làm thủ tục ly hôn để ông chia đất cho các con, cũng như bán đất để dưỡng già nên bà có biết. Vì vậy, bà chấp ly hôn theo yêu cầu của ông S.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Tất cả đều không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu:
Về tố tụng:
Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23-02-2021 và được công bố theo Quyết định số 42/QĐ-CA ngày 12-3-2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 35/NQ-QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Văn S đối với bà Nguyễn Thị L. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông bà trình bày tất cả đều không có nên không đặt ra giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị L chung sống với nhau vào khoảng năm 1960-1961, không có đăng ký kết hôn. Khoảng 02 năm sau đó ông bà không chung sống với nhau nữa. Từ năm khoảng năm 1973-1975, ông bà đều có vợ (chồng) khác; có con chung và có tài sản với vợ (chồng) sau. Căn cứ Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23-02-2021 và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA 12-3-2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, quy định “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng sau đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác. Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế”. Do vậy, trong trường hợp này hôn nhân của ông bà là hôn nhân thực tế, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay ông S có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung. Thấy rằng, ông bà chấm dứt quan hệ hôn nhân đã lâu (từ năm 1962-1963 đến nay), không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông S đối với bà L là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông bà trình bày tất cả đều không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông S là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí theo quy định tai Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23-02-2021 và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA 12-3-2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về phí, lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Văn S đối với bà Nguyễn Thị L. Ông S được ly hôn với bà L.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông bà trình bày tất cả đều không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Ông S là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí
Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Vân Quỳnh |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Sộn-Nguyễn Thị Lia
