|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày 17- 02 - 2025 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Thủy
Ông Trần Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quang Khải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn H, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
-
Bị đơn: Ông L, F, sinh năm 1974
Địa chỉ: Số B V, thị trấn T, huyện T, thành phố L, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Thông qua bạn bè giới thiệu, bà T quen biết với ông L, F. Sau một thời gian tìm hiểu, bà T và ông L, F quyết định đi đến hôn nhân, chung sống với nhau tại Trung Quốc, có đăng ký kết hôn tại Sở dân chính tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc vào ngày 06/8/2013. Bà T và ông L, F chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được do bất đồng quan điểm sống và ông L, F nhiều lần có hành vi bạo lực đối với bà T. Đến đầu năm 2014, bà T quay trở về Việt Nam sinh sống, không còn liên lạc gì với ông L, F. Nay bà T không còn tình cảm và cũng không có ý định hàn gắn gia đình với ông L, F nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông L, F.
Về con chung và tài sản chung: Bà T xác định không có con chung và không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về các vấn đề khác: Không có.
Ý kiến bị đơn ông L, F:
Ông L, F đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không gửi ý kiến cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, vi phạm quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà T và ông L, F xây dựng gia đình có đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung giữa bà T và ông L, F phát sinh nhiều mâu thuẫn không giải quyết được và bà T có đơn khởi kiện ly hôn với ông L, F. Xét thấy, bà T và ông L, F không còn liên lạc với nhau từ năm 2014, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông L, F. Về con chung và tài sản chung bà T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhận định như sau:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông L, F, sinh năm 1974; địa chỉ: Số B V, thị trấn T, huyện T, thành phố L, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Xác định đây là quan hệ hôn nhân và gia đình về việc “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa bà T và ông L, F là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Sở dân chính tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc vào ngày 06/8/2013. Sau khi kết hôn, bà T và ông L, F sống chung tại Trung Quốc. Hai ông bà sống hạnh phúc đến cuối năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được do bất đồng quan điểm sống và ông L, F có hành vi bạo lực gia đình. Đầu năm 2014, bà T quay về Việt Nam sinh sống, không còn liên lạc và cũng không có ý định hàn gắn gia đình với ông L, F. Đến ngày 20/6/2023, bà T có đơn ly hôn.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, trường hợp ông L, Fuqiang phản đối yêu cầu của bà T thì phải làm văn bản gửi cho Tòa án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông L, F cố tình vắng mặt và không gửi ý kiến cho Tòa án đã chứng minh hôn nhân giữa bà T và ông L, F lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho bà T được ly hôn với ông L, F.
Về con chung và tài sản chung:
Bà T xác nhận không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các vấn đề khác:
Không có.
Về án phí:
Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 470; khoản 1, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về việc “Tranh chấp ly hôn” với ông L, F.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông L, F.
-
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn). Chuyển 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006141 ngày 11/7/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thành tiền án phí. Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
-
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông L, F được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.
|
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ly |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
