|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-3-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bành Văn Hải
2. Bà Đào Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 464/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04-3-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Kim H, sinh năm 1980, địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện P, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Anh Đặng Thế M, sinh năm 1975, địa chỉ: Ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Chị H và anh M đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 03-12-2024, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Dương Thị Mai H1 trình bày:
Chị và anh Đặng Thế M chung sống với nhau từ năm 2003, có tìm hiểu trước, hôn nhân tự nguyện. Chị và anh M không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh vào ngày 06-02-2013.
Trong quá trình chung sống anh chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung.
Anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chị mâu thuẫn với mẹ chồng, mẹ chồng nặng nhẹ đuổi chị đi khỏi nhà. Trong quá trình chung sống chị và anh M không có con chung nên tình cảm vợ chồng càng ngày càng lạnh nhạt. Cảm thấy vợ chồng sống không tình cảm nên tháng 5-2022 vợ chồng ly thân cho đến nay, từ ngày ly thân không ai tìm cách hàn gắn gia đình và cũng không liên lạc với nhau.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Thế M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, chị H2 đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, còn anh P thì chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Mai H1 đối với anh Đặng Thế M;
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.
Về án phí: Chị H1 chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Thị Mai H1 có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn anh Đặng Thế M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Dương Thị Mai H1 và anh Đặng Thế M là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do anh chị không có con chung và chị mâu thuẫn với nhà chồng. Anh chị ly thân từ tháng 5-2022 cho đến nay, hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh M. Còn anh M, mặc dù đã được Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, tham gia hòa giải và xét xử nhưng anh M vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H1 và cũng không thể hiện thiện chí để đoàn tụ. Từ các chứng cứ trên cho thấy, mâu thuẫn của anh chị trở nên trầm trọng, anh M cũng không có thiện chí hàn gắn nên mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con: Chị H1 khai không có nên không giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H1 không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị H1 phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Mai H1 đối với anh Đặng Thế M. Chị Dương Thị Mai H1 được ly hôn với anh Đặng Thế M.
- Về con chung: Chị H1 khai không có nên Toà án không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H1 không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Dương Thị Mai H1 phải chịu 300.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H1 đã nộp theo biên lai thu số 0008379 ngày 11-12-2024 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu. Chị H1 đã nộp đủ tiền án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Mai Dung |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
