Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 6 - 2025

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; bà Nguyễn Thị Hệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 27/02/2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 08/5/2025, theo Quyết đinh hoãn phiên tòa số 09//2025/QĐHPT - HNGĐ ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị P, sinh năm 1992.

Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1987.

Cùng HKTT: Đội 6, thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Chỗ ở chị P: Số nhà C, ngõ A, đường P, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Cháu Phạm Thị Mai L, sinh ngày 04/8/2012.

Cháu Phạm Văn D, sinh ngày 20/03/2014.

Đại diện theo pháp luật cho các cháu là chị P và anh Q (bố mẹ đẻ).

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1956. Trú tại: Đ, thôn Đ, xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị Phương T bầy:

Chị và anh Phạm Văn Q kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 16/01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ anh Q thời gian đầu. Anh Q làm tự do trên Hà Nội, còn chị ở nhà làm may. Năm 2018, chị lên ở cùng với anh Q và làm thuê trên đó. Anh Q mải chơi cờ bạc, chị đã khuyên bảo nhiều nhưng anh không nghe. Năm 2019 anh bị Tòa án thành phố H xử phạt 16 tháng tù treo về tội Đánh bạc. Năm 2020 hay 2021 anh Q lại bị Tòa án quận T, Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội Đánh bạc. Anh phải đi chấp hành án là 36 tháng tù tại Trại giam T1, Thanh Hóa. Thời gian anh Q trong trại giam, chị mải làm để nuôi con nên không thăm nuôi anh. Tháng 5/2023, anh Q chấp hành xong án trở về nhà, không chịu đi làm, lại tiếp tục dính vào cờ bạc, vợ chồng cãi nhau nhiều vì kinh tế không có, anh nợ nần nhiều người, thậm trí còn phải đi trốn nợ. Tháng 7/2023 vợ chồng ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Anh Q chủ động cắt đứt hết liên lạc với chị. Tết năm 2025, vợ chồng về ăn tết tại nhà bố mẹ anh Q, chị có đề cập đến việc ly hôn thì anh bảo chị cứ làm đơn ra Tòa án. Đến khi chị nộp đơn đến Tòa án, chị không thể liên hệ được với anh Q, chị không biết anh Q ở đâu và làm gì. Nay, chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Q nữa, cuộc sống không có hạnh phúc. Chị xin ly hôn anh Q.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phạm Thị Mai L, sinh ngày 04/8/2012 và Phạm Văn D, sinh ngày 20/03/2014. Hiện cả hai cháu đang ở với ông bà nội tại xã H, thành phố H. Khi ly hôn chị nhận nuôi cả hai cháu và tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Q đến làm việc nhưng anh không đến. Tòa án cũng đã trực tiếp đến nhà nhưng anh Q không có nhà. Tại biên bản làm việc ngày 21/03/2025 bố đẻ anh là ông Phạm Văn Đ có cung cấp mâu thuẫn tình cảm vợ chồng chị P và anh Q nhưng ông từ chối ký xác nhận vào biên bản làm việc và từ chối nhận thay anh các văn bản tiến hành tố tụng của Tòa án. Do vậy, Tòa án không lấy được lời khai của anh Q và ông Đ và cũng không tiến hành hòa giải được cho chị P và anh Q.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Phạm Thị Mai L và Phạm Văn D trình bày: Bố mẹ ít khi ở cùng nhau, hiện nay thì không ở cùng. Bố mẹ có mâu thuẫn hay không cháu không biết. Nay, mẹ P xin ly hôn bố Q, các cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà là mẹ đẻ chị P, mẹ vợ anh Q.

vợ chồng chị P sau kết hôn chung sống cùng bố mẹ anh Q. Thời gian đầu, vợ chồng hạnh phúc. Thời gian sau xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Q chơi bời, không quan tâm vợ con. Việc chị P xin ly hôn anh Q và nhận nuôi hai con, bà tôn trọng quyết định của chị và sẽ giúp chị chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu tại nhà bà. Gia đình bà không có tài sản, nợ chung với vợ chồng chị.

Tòa án đã mở phiên tòa ngày 26 tháng 5 năm 2025, bị đơn anh Phạm Văn Q vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị Hà Thị P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh Phạm Văn Q vắng mặt lần 2 không có lý do, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự.

- Quan điểm của đại diện VKSND thành phố Hưng Yên:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xử cho đến quá trình xét xử. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71, 73, 78 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 57, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị HĐXX tuyên xử chị P được ly hôn anh Q; giao cháu L và cháu D cho chị P nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con hàng tháng; tài sản chung chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; chị P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hà Thị P yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn Q có hộ khẩu thường trú: Đội 6, thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Tại xác nhận thông tin cư trú ngày 09/8/2024 Công an xã H cung cấp anh Q có nơi thường trú tại: Đội 6, thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Tại Biên bản làm việc ngày 21/3/2025 ông Phạm Văn Đ - Bố đẻ anh Q trình bày: Dịp tết Nguyên đán năm 2025, anh Q và chị P có về nhà ông ăn tết, anh Q hiện đi đâu và làm gì, ông không biết do anh giấu địa chỉ, nhưng anh có chủ động gọi điện về hỏi thăm gia đình. Theo Công văn trả lời của Phòng QL Công an tỉnh H thể hiện ngày 27/01/2025 anh Q nhập cảnh, đến ngày 15/03/2025 anh xuất cảnh. Ngày 27/02/2025 Tòa án thụ lý vụ án hôn nhân gia đình theo đơn khởi kiện của chị P thì anh Q vẫn ở Việt Nam. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Q hiện đang ở đâu. Anh Q vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo công khai địa chỉ cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được thì được coi là giấu địa chỉ nên căn cứ khoản 3 Điều 40 bộ luật Dân sự; điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 471 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hôn nhân”.

Nguyên đơn chị Hà Thị P có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh Q theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị P và anh Phạm Văn Q kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là thành phố H), tỉnh Hưng Yên ngày 16/01/2010, như vậy hôn nhân giữa chị P và anh Q là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P: Chị và gia đình hai bên đều khẳng định cuộc sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn về kinh tế chung vợ chồng không có. Nguyên nhân là do anh Q chơi bời, từ năm 2020 đến 2021 anh phải đi chấp hành án tù tại Trại giam T1, Thanh Hóa. Tháng 5/2023 anh Q chấp hành án xong về nhà vẫn mải chơi, không tu chí làm ăn. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q không đến Tòa án bày tỏ quan điểm về việc chị P xin ly hôn, chứng tỏ anh cũng không thiết tha cuộc sống vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy hiện tại anh chị đang sống ly thân, vợ chồng sống xa nhau, không liên lạc quan tâm đến nhau, kinh tế không chung, mâu thuẫn tình cảm đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc chị P xin ly hôn anh Q là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[2.3] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Thị Mai L, sinh ngày 04/8/2012 và Phạm Văn D, sinh ngày 20/03/2014. Hiện tại các cháu đang ở với ông bà nội. Mặc dù anh Q không đến Tòa án làm việc nên không xác định được quan điểm của anh về con chung, nhưng nguyện vọng của các cháu muốn được ở với chị P. Chị P cũng muốn nhận nuôi 2 cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao cháu cháu L và cháu D cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con

chung hàng tháng. Nếu anh Q không nhất trí về cấp dưỡng nuôi con chung, hoặc có yêu cầu khác về nuôi con, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[2.4] Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu giải quyết. Anh Q không đến Tòa nên HĐXX không biết quan điểm của anh về tài sản chung. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Chị Hà Thị P phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 3 Điều 40 bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 471 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị P được ly hôn anh Phạm Văn Q.
  2. [2]. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Mai L, sinh ngày 04/8/2012 và Phạm Văn D, sinh ngày 20/03/2014 cho chị Hà Thị P nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Nếu anh Q không nhất trí về cấp dưỡng nuôi con chung, hoặc có yêu cầu khác về nuôi con, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

  3. [3]. Về tài sản: Chị P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
  4. [4]. Về án phí: Chị Hà Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0000647 ngày 27/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị P đã nộp đủ án phí.
  5. [5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận.

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS T.P Hưng Yên;
  • - PKT Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Hệ Nguyễn Thị Bá Thiệp

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phương - Quỳnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger