TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày 11-04-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Liên
Bà Lục Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Linh Đức Minh- Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Đài Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 03 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/03/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phàn Thị Â, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. (Vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bàn Văn H, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/9/2024, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phàn Thị Â trình bày:
Chị và anh Bàn Văn H có đăng ký kết hôn ngày 22/11/2013 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, được tìm hiểu yêu thương nhau từ trước. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, nhiều lần xảy ra bạo lực gia đình. Mặc dù đã được anh em, bạn bè cũng như hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn không cải thiện được. Chị Â và anh H đã sống ly thân từ tháng 09/2021 cho đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa nên chị Â làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bàn Văn H để mỗi người có cuộc sống riêng.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Bàn Văn V, sinh ngày 06/09/2013 và Bàn Trà M, sinh ngày 20/10/2017. Khi ly hôn chị Â có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M và giao cháu V cho anh Bàn Văn H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tiền án phí: Chị Phàn Thị Â tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 18/11/2024 anh Bàn Văn H trình bày: Anh và chị Phàn Thị Â trước khi kết hôn hoàn toàn tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 22/11/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, nhưng do kinh tế gia đình khó khăn nên anh mới đồng ý cho chị Â đi làm thuê ở bên ngoài. Sau khi chị Â đi làm được một thời gian thì có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Bàn Văn H. Do tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh H không nhất trí ly hôn với chị Phàn Thị Â.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Bàn Văn V, sinh ngày 06/09/2013 và Bàn Trà M, sinh ngày 20/10/2017. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V và giao cháu M cho chị Phàn Thị Â nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
- Về tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ, đúng các trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng dân sự, đúng quy định của pháp luật.
- Về những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của mình. Bị đơn không chấp hành đầy đủ các thủ tục, yêu cầu của Tòa án, không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phàn Thị Â.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phàn Thị Â và anh Bàn Văn H được ly hôn.
- Về con chung: Sau khi ly hôn, giao cháu Bàn Văn V, sinh ngày 06/09/2013 cho anh Bàn Văn H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Bàn Trà M, sinh ngày 20/10/2017 cho chị Phàn Thị Â là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu, bị đơn xác định không có tài sản, công nợ chung. Do đó không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Â phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Theo nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phàn Thị Â có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Bàn Văn H, cư trú tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án chị Phàn Thị Â có đơn xin xét xử vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa anh Bàn Văn H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phàn Thị Â và anh Bàn Văn H có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật vào ngày 22/11/2013 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn và chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, nhiều lần xảy ra bạo lực gia đình, chị Â đã sống ly thân với anh H từ tháng 9/2021 cho đến nay. Trước khi mở phiên tòa chị Â có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Văn H, giữ nguyên yêu cầu giải quyết về con chung và cấp dưỡng, về tài sản chung, công nợ chung và án phí. Bị đơn anh Bàn Văn H có bản tự khai nêu quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phàn Thị Â, nhất trí về con chung và cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ chung, không nhất trí ly hôn với chị Â. Tại phiên tòa, anh Bàn Văn H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. HĐXX xác định vụ án thuộc trường hợp bị đơn cố tình không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn chị Â và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn trong thời gian dài, lý do mâu thuẫn các bên đưa ra khác nhau, trên thực tế chị Â và anh H đã sống ly thân nhiều năm, không còn yêu thương, quan tâm đến nhau. Chị Â đã đón cháu B Trà Mi đi sinh sống ở nơi khác, cháu Bàn Văn V đang sinh sống cùng anh H. Từ những nhận định trên HĐXX có đủ căn cứ để xác định: Tình trạng hôn nhân giữa chị Phàn Thị Â và anh Bàn Văn H mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phàn Thị Â.
[3] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Bàn Văn V, sinh ngày 06/09/2013 và cháu Bàn Trà M, sinh ngày 20/10/2017. Khi ly hôn, anh H có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V và giao cháu M cho chị Phàn Thị Â nuôi dưỡng. Qua xác minh, nguyện vọng của cháu V và cháu M phù hợp với đơn trình bày bày nguyện vọng của các cháu, phù hợp với yêu cầu của các đương sự do đó cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, do đó Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Phàn Thị Â phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Quan điểm và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên phát biểu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của chị Phàn Thị Â đối với anh Bàn Văn H.
2. Tuyên xử:
· Về quan hệ hôn nhân: Chị Phàn Thị Â được ly hôn với anh Bàn Văn H.
- Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Bàn Văn V, sinh ngày 06/09/2013 cho anh Bàn Văn H có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Giao cháu Bàn Trà M, sinh ngày 20/10/2017 cho chị Phàn Thị Â có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Phàn Thị Â phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị Â đã nộp theo biên lai thu số 0001228 ngày 18/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a; Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phúc |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phàn Thị A và anh Bàn Văn H ly hôn
