|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày 11-3-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
———————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thành Huynh
Ông Nguyễn Văn Chuẩn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958; cư trú tại số G, đường N, Khóm A, Phường B (Nay thuộc Phường C), thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trầm Phú L, là Luật sư của Công ty L1 chi nhánh T1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1959; cư trú tại B C, W, N, Hoa Kỳ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 5 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Vào năm 1980, ông và bà Lâm Thị T có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, sau đó ông xuất cảnh định cư tại Hoa Kỳ. Đến khi bà T mang thai người con thứ hai, ông làm thủ tục bảo lãnh bà T sang Hoa Kỳ để đoàn tụ vợ chồng. Đến đầu năm 2020, ông và bà T bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau, bà T nhiều lần hâm dọa và đánh ông, nên vào năm 2023 ông trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Còn bà T thì sinh sống tại Hoa Kỳ. Ông cảm thấy không thể tiếp tục sống chung với bà T được nữa, nên ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
Về con chung: Có 05 người và đều đã trưởng thành, nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bị đơn bà Lâm Thị T trình bày: Bà thống nhất theo lời trình bày của ông H về thời gian tổ chức lễ cưới và quá trình sống chung với nhau. Nhưng, giữa bà và ông H không xảy ra mâu thuẫn như ông H trình bày, mà do ông H có quen biết với một người phụ nữ khác ở Việt Nam nên ông H lạnh nhạt, khó chịu với bà và trở về Việt Nam sinh sống. Việc ông H làm đơn xin ly hôn với bà, là để ông H được sống chung hợp pháp với người phụ nữ khác. Vì vậy, bà không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông H.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Việc ông H yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ, vì ông H cho rằng khi ông H và bà T còn sống chung với nhau tại Hoa Kỳ đã xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, bà T có hăm dọa ông H, làm cho ông H lo sợ. Bà T không đồng ý ly hôn với ông H, nhưng bà T không trình bày được giải pháp để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, cho ông H ly hôn với bà T.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H ly hôn với bà T, nhưng ông H không trình bày hoặc cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh giữa ông H và bà T đã xảy ra mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Ông H không chứng minh được bà T có hành vi bạo lực gia đình với ông H hoặc bà T có vi phạm nghĩa vụ của người vợ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị T tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào năm 1980, thuộc trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987 (Ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật), nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân thực tế. Ông H cho rằng, giữa ông H và bà T đã xảy ra mâu thuẫn, không thể sống chung với nhau được, nên ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H ly hôn với bà T. Bà T thì cho rằng, giữa bà T và ông H không có mâu thuẫn như ông H trình bày, việc ông H xin ly hôn với bà T là để ông H được sống chung hợp pháp với người phụ nữ khác, nên bà T không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông H.
[2] Xét thấy, ông H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H ly hôn với bà T, nhưng ông H không trình bày được nguyên nhân ông H và bà T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Ông H cũng không cung cấp được tài liệu, giấy tờ để chứng minh bà T có hành vi bạo lực gia đình đối với ông H như ông H trình bày. Ông H cũng không chứng minh được, giữa ông H và bà T vi phạm tình nghĩa vợ chồng về thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tại phiên tòa, ông H khai, bà T không có vi phạm nghĩa vụ của người vợ.
[3] Hiện nay, ông H và bà T đều đã hơn 65 tuổi, đều là người cao tuổi và theo Luật người cao tuổi quy định về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi, trong đó có quyền quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn. Đồng thời, người cao tuổi có nghĩa vụ nêu gương trong sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống mẫu mực; giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; gương mẫu chấp hành và vận động gia đình, cộng đồng chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; truyền đạt kinh nghiệm quý báu cho thế hệ sau... Do vậy, ông H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H ly hôn với bà T, là không có căn cứ chấp nhận và không phù hợp với quy định của Luật người cao tuổi.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Xét thấy quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông H, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, cho ông H ly hôn với bà T, là chưa đủ căn cứ chấp nhận.
[6] Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông H, là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về án phí: Do ông H là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên miễn toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm cho ông H theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 1 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 và khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn H.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn và bị đơn, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
4
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa Nguyễn Văn H với Lâm Thị T
