Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/3/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
  • Ông Lê Phi Long
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 4, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số: 23/TB-TA ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1988; nơi ĐKTT: thôn B, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 353-2 G, Gijang-eup, Gijang-gun, B, Hàn Quốc.Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1983; nơi thường trú: thôn B, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1985; địa chỉ: xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và văn bản ý kiến đề ngày 18/6/2024, đều được Đ tại Hàn Quốc chứng thực ngày 24/6/2024, nguyên đơn chị Vũ Thị C trình bày:

Chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y (nay là thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 08/5/2007.

Sau khi kết hôn, chị C và anh T có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Đến năm 2018, do hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng thống nhất để chị C đi lao động tại Hàn Quốc, anh T ở nhà làm kinh tế. Sau khi chị C đi Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng còn gọi điện, nhắn tin cho nhau hỏi thăm các con và chị C gửi tiền về để anh T lo cho các con. Nhưng từ khoảng 3 năm gần đây, chị C nhận thấy anh T ở nhà có những hành động khác lạ so với trước, không quan tâm vợ con. Chị C tìm hiểu thì được biết anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, làm ăn thua lỗ, về nhà hay cáu gắt và chửi mắng các con; con gái lớn đã nhiều lần gọi điện cho chị C kể mọi chuyện. Chị C đã khuyên can anh T nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn, không có tiếng nói chung. Chị C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị C được ly hôn với anh T.

- Về con chung: chị C và anh T có ba con chung là Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008; Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 và Lê Ngọc H, sinh ngày 08/10/2017. Các con chung đều có nguyện vọng muốn ở cùng với chị C, chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị C được nuôi dưỡng các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2, còn con chung Lê Ngọc H giao cho anh T nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng cho con với nhau.

Do chị C vẫn đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc chưa thể về Việt Nam để trực tiếp nuôi dưỡng các con chung sau khi ly hôn. Chị C ủy quyền cho chị Vũ Thị T1, là chị gái ruột của chị C nuôi dưỡng các con Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 cho đến khi chị C về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Đề nghị Tòa án chấp nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung: chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do chị C vẫn đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc, chị C đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị C tại các buổi làm việc và tại các phiên họp, phiên tòa.

* Tại Bản tự khai đề ngày 26/02/2025, của bị đơn anh Lê Văn T, có xác nhận của UBND xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, thể hiện nội dung:

Anh Lê Văn T và chị Vũ Thị C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y (nay là thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 08/5/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ của anh T. Đến năm 2018, chị C đi Hàn Quốc theo diện thăm thân và ở lại làm việc bên đó. Từ khi chị C đi Hàn Quốc chỉ về thăm nhà 2-3 lần, từ năm 2021- 2022 đến nay không về (kể cả khi bố đẻ chị C ốm nặng nằm viện và khi bố đẻ chị C mất mà chị C cũng không về). Về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do sống xa nhau và anh T nhận thấy chị C là người không có tình cảm với người thân ruột thịt như anh T nêu trên nên anh T cũng không còn tình cảm với chị C1 nữa. Chị C xin ly hôn, anh T đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết để anh T ổn định cuộc sống. Về lý do chị C xin ly hôn anh T như chị C trình bày tại Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị C (do T3 thông báo cho anh T được biết), là không đúng sự thật.

- Về con chung: anh T và chị C có ba con chung là Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008; Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 và Lê Ngọc H, sinh ngày 08/10/2017. Từ khi chị C đi Hàn Quốc, các con do anh T chăm sóc nuôi dưỡng, chị C có gửi tiền về nuôi con nhưng gửi trực tiếp vào tài khoản của con Lê Quỳnh N. Hiện nay, các con Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 đã chuyển đến nhà anh trai của chị C ở; về lý do các con chuyển đến nhà anh trai của chị C ở thì anh T không rõ. Anh T cũng đã đến nói chuyện để đưa các con về nhưng các con không đồng ý về; còn con bé hiện nay vẫn đang ở cùng với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu Toà án giao cả ba con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T yêu cầu chị C cấp dưỡng (tiền học) cho các con Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 theo quy định pháp luật. Anh T không đồng ý với quan điểm của chị C nêu tại đơn khởi kiện về việc chị C yêu cầu Tòa án giải quyết giao các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 cho chị C nuôi dưỡng mà lại uỷ quyền cho chị Vũ Thị T1 là chị gái cùng cha khác mẹ với chị C nuôi dưỡng trong thời gian chị C chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trong khi anh T vẫn có đủ khả năng nuôi dưỡng các con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: anh Lê Văn T không đề nghị Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn T trình bày: về quan hệ hôn nhân, anh T đồng ý ly hôn với chị C; về con chung, anh T thay đổi quan điểm: đồng ý để chị C nuôi dưỡng các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2, đồng ý để chị T1 nuôi dưỡng các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 trong thời gian chị C chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Anh T và chị C, không phải cấp dưỡng cho con với nhau; về tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 26/02/2025, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị T1 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: chị T1 là chị gái của chị C (chị em cùng cha, khác mẹ). Chị T1 được chị C uỷ quyền nuôi dưỡng các con chung của chị C và anh T là các cháu Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008 và Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 trong thời gian chị C đi Hàn Quốc chưa thể về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con. Chị T1 đồng ý nhận sự ủy quyền của chị C nhưng chị T1 được biết hiện nay anh T đang có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả ba con chung, vì anh T là bố đẻ của các con và có đầy đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng các con. Nên chị T1 xin được trao đổi lại việc này với chị C và thông tin lại cho Tòa án biết.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị T1 trình bày: sau khi làm việc với Tòa án ngày 26/02/2025, chị T1 đã trao đổi với chị C và tại phiên tòa hôm nay anh T đã đồng ý để chị C nuôi dưỡng các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2; đồng ý để chị T1 nuôi dưỡng các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 trong thời gian chị C chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Nên chị T1 đồng ý nhận sự ủy quyền của chị C. Chị C không yêu cầu chị C và anh T phải cấp dưỡng để chị T1 nuôi dưỡng các cháu Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2.

* Tại Biên bản ghi nguyện vọng đề ngày 26/02/2025, của các cháu Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: các cháu đều là con chung của chị C và anh T. Từ mùa hè năm 2024, các cháu đã chuyển đến ở tại nhà ông Vũ Đức H1 là anh trai của mẹ các cháu; địa chỉ: thôn A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh vì các cháu ở cùng với bố, bị bố quát mắng và bố còn có lời lẽ không đúng về mẹ. Từ năm 2022 đến nay, mẹ các cháu chưa về nước nhưng mẹ thường xuyên gọi điện thoại về nói chuyện với các cháu. Mẹ các cháu muốn ở lại làm việc kiếm tiền, khi các cháu đi học đại học mẹ sẽ về. Khi bố mẹ ly hôn, các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

* Tại Biên bản ghi nguyện vọng đề ngày 26/02/2025, của cháu Lê Ngọc H (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: cháu là con chung của chị C và anh T. Hiện nay cháu đang ở cùng với bố tại nhà ông bà nội. Lâu rồi mẹ cháu không về, chỉ gọi điện thoại về nói chuyện với cháu. Bố mẹ không sống với nhau nữa, cháu muốn ở với bố.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị C như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện, quan điểm của chị Vũ Thị C, cũng như quan điểm của anh Lê Văn T và chị Vũ Thị T1 như nêu trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị C, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; nguyên đơn chị Vũ Thị C hiện đang sinh sống tại địa chỉ: 3 G, Gijang-eup, Gijang-gun, B, Hàn Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Vũ Thị C vắng tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vũ Thị C.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng kí kết hôn tại UBND xã H, huyện Y (nay là thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh ngày 08/5/2007, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, chị C và anh T có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Từ năm 2018, chị C đi lao động tại Hàn Quốc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn như chị C và anh T trình bày nêu trên là không thống nhất nhưng có căn cứ xác định: từ năm 2018, chị C đi lao động tại Hàn Quốc đến nay, mới chỉ về thăm gia đình được 2 - 3 lần; từ năm 2022 đến nay, chị C không về, chỉ gọi điện thoại cho các con chung, không liên lạc với anh T nữa. Chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị C được ly hôn với anh T, anh T đồng ý. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị C và anh T không còn tồn tại đời sống chung; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần; không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị C đối với anh T.

[2.2] Về con chung: chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T có ba con chung là Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008; Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 và Lê Ngọc H, sinh ngày 08/10/2017, từ khi chị C đi Hàn Quốc, các con chung ở nhà với anh T. Theo anh T trình bày: chị C có gửi tiền về nuôi con nhưng gửi trực tiếp vào tài khoản của con Lê Quỳnh N. Từ mùa hè năm 2024, các con chung Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2 đã chuyển đến ở tại nhà anh Vũ Đức H1 (anh H1 là anh trai của chị C); địa chỉ: thôn A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Theo cháu N và cháu T2 trình bày là do ở cùng với anh T, bị anh T quát mắng và anh T có lời lẽ không đúng về chị C với các con; con chung Lê Ngọc H hiện vẫn đang ở với anh T. Cháu Lê Quỳnh N và Lê Vũ T2, có nguyện vọng muốn ở cùng mẹ; còn cháu Lê Ngọc H có nguyện vọng muốn ở với bố.

Với yêu cầu, quan điểm của nguyên đơn chị C; quan điểm của bị đơn anh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T1 về phần nuôi con sau khi ly hôn như nêu trên, là phù hợp với nguyện vọng của các con chung của chị C và anh T. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh T nên căn cứ quy định tại các Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, có căn cứ chấp nhận yêu cầu, quan điểm của nguyên đơn chị C; quan điểm của bị đơn anh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T1 về phần nuôi con sau khi ly hôn như sau: giao cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008 và Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi); giao cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Ngọc H, sinh ngày 08/10/2017 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Hai bên không phải cấp dưỡng cho con với nhau và đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tạm giao cho chị T1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008 và Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 cho đến khi chị C về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị C.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị C được ly hôn với anh Lê Văn T.

[2] Về con chung:

Giao cho chị Vũ Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008 và Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011, cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi).

Giao cho anh Lê Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Ngọc H, sinh ngày 08/10/2017 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).

Tạm giao các cháu Lê Quỳnh N, sinh ngày 21/02/2008 và Lê Vũ T2, sinh ngày 10/7/2011 cho chị Vũ Thị T1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị Vũ Thị C về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

Chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T, không phải cấp dưỡng cho con với nhau.

Sau khi ly hôn, chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Vũ Thị C hoặc anh Lê Văn T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì chị Vũ Thị C hoặc anh Lê Văn T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Vũ Thị C và anh Lê Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: chị Vũ Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005916 ngày 29/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Vũ Thị C biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Lê Văn T và chị Vũ Thị T1 biết, đều có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Hiệp Hoà, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger