Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05 tháng 3 năm 2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Gia Khải;

2. Bà Vũ Thị Ngân.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXX-ST ngày 24/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bàn Thị Thu H, sinh năm 1991

- Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1980

Cùng cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị H có mặt, anh C vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Bàn Thị Thu H có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 05/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 8/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 08/2023 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Phương T, sinh ngày 09/6/2011 và Phạm Mai P, sinh ngày 13/4/2014. Ly hôn chị H đề nghị được nuôi cháu P, để anh C nuôi cháu T; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, hiện tại chị H không có thai nghén gì. Chị H đang làm tại công ty M thu nhập 1 tháng là 9.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản biên bản lấy lời khai anh Phạm Văn C trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị H về thời gian hoàn cảnh kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì cũng không sống ly thân. Nay chị H có đơn xin ly hôn thì anh C đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Phương T, sinh ngày 09/6/2011 và Phạm Mai P, sinh ngày 13/4/2014. Ly hôn anh C xin được nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung, hiện nay anh C làm lao động tự do. Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Phạm Thị Phương T trình bày: Cháu Phạm Thị Phương T, sinh ngày 09/6/2011 là con đẻ của chị Bàn Thị Thu H và anh Phạm Văn C. Hiện cháu T đang học lớp 8A trường Trung học cơ sở xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu chị H, anh C ly hôn thì cháu T có nguyện vọng ở cùng anh Phạm Văn C.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Phạm Mai P trình bày: Cháu Phạm Mai P, sinh ngày 13/4/2014 là con đẻ của chị Bàn Thị Thu H và anh Phạm Văn C. Hiện cháu P đang học lớp 5C trường Tiểu học cơ sở xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu chị H, anh C ly hôn thì cháu P có nguyện vọng ở cùng chị Bàn Thị Thu H.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn C, cán bộ tư pháp xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Bàn Thị Thu H và anh Phạm Văn C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 05/8/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn hay không thì cơ sở không nắm rõ. Nay chị H có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu hòa giải không thành thì đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Chị H và anh C có 02 con chung là Phạm Thị Phương T, sinh ngày 09/6/2011 và Phạm Mai P, sinh ngày 13/4/2014, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của con chung. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Bàn Thị Thu H và anh Phạm Văn C là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị H, anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 05/8/2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị H đề nghị ly hôn, anh C không đồng ý ly hôn, nhưng anh C cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị được ly hôn anh C là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Bàn Thị Thu H và anh Phạm Văn C có 02 con chung là Phạm Thị Phương T, sinh ngày 09/6/2011 và Phạm Mai P, sinh ngày 13/4/2014. Ly hôn chị H đề nghị mỗi người nuôi 01 con; anh C đề nghị được nuôi 02 con chung. Cháu Phạm Thị Phương T có nguyện vọng được ở cùng anh C, cháu Phạm Mai P có nguyện vọng ở cùng chị H. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị H, anh C là chính đáng, chị H, anh C có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Bàn Thị Thu H trực tiếp nuôi con Phạm Mai P; anh Phạm Văn C trực tiếp nuôi con Phạm Thị Phương T; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị H, anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bàn Thị Thu H, anh Phạm Văn C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Bàn Thị Thu H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bàn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Văn C.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Bàn Thị Thu H trực tiếp nuôi con Phạm Mai P, sinh ngày 13/4/2014; anh Phạm Văn C trực tiếp nuôi con Phạm Thị Phương T, sinh ngày 09/6/2011; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H, anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Bàn Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo Biên lai thu số 0004823 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bàn Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 05/3/2025). Anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Q, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị H và anh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger