TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KONTUM Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 03/4/2025. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiệp và bà Lê Thị Ngọc Phượng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum.
Ngày 03/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 247/2024/TLST-HNGĐ ngày 28-11-2024, về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lý Văn V. Địa chỉ: E Đ, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. "Có đơn xin xét xử vắng mặt".
- - Bị đơn: Chị Trần Thị Thúy V1. Địa chỉ: E Đ, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. "Có đơn xin xét xử vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì anh Lý Văn V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh với chị Trần Thị Thúy V1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 01/10/2015 tại UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Việc kết hôn của anh, chị là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ, chồng anh sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống về các vấn đề trong gia đình, dẫn đến cãi nhau, xúc phạm nhau, không quan tâm đến nhau. Chị V1 xúc phạm bố, mẹ anh, chê anh nghèo, anh tự ái nên đã bỏ nhà đi nhiều lần, khi anh về thì chị V1 vẫn chứng nào tật đó. Mâu thuẫn trầm trọng vào tháng 10 năm 2004, chị V1 và gia đình chị V1 đuổi anh đi nên anh đã ra thuê nhà ở riêng từ đó đến nay, việc ai người ấy làm. Sau khi được Tòa án hòa giải đoàn tụ thì vợ, chồng anh không bàn vấn đề đoàn tụ mà chị V1 cùng mẹ chị V1 đến nơi làm việc của anh chửi anh, xúc phạm anh, làm ảnh hưởng đến công việc của anh. Nay anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh không còn yêu chị V1 nữa nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị Thúy V1; Về con chung: Vợ, chồng anh sinh được 01 con chung là Lý Gia B, sinh ngày 12/9/2017, tại đơn khởi kiện anh yêu cầu Tòa án giao con cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, không yêu cầu chị V1 phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Tại Bản tự khai ngày 12/02/2025 anh thay đổi yêu cầu này, anh yêu cầu giao con cho chị V1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng. Vì mức thu nhập 01 tháng của anh không ổn định, chỉ được 5.000.000.000 đ/1 tháng; Về tài sản chung, nợ nần chung: Anh không yêu cầu giải quyết; Án phí DSST anh nhận chịu.
Tại Bản trình bày ý kiến đề ngày 10/12/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì bị đơn chị Trần Thị Thúy V1 trình bày: Chị thừa nhận lời trình bày ở trên của anh V về thời gian, địa điểm kết hôn và việc kết hôn tự nguyện là đúng. Sau khi kết hôn anh, chị sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan sống trong các vấn đề gia đình nên cãi nhau, xúc phạm nhau. Đến tháng 10 năm 2024 thì anh V dọn ra thuê nhà ở riêng, không hỏi thăm chị, không quan tâm đến chị, việc ai người ấy làm, tự chi tiêu riêng. Việc anh V dọn ra ở riêng chị không biết lý do gì. Nay chị vẫn yêu thương anh V, chị không đồng ý ly hôn với anh V, mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng chị đoàn tụ để nuôi dậy con cái. Về con chung: Vợ chồng chị sinh được 01 con chung như anh V trình bày ở trên là đúng. Chị không đồng ý ly hôn, nên chị không yêu cầu giải quyết về con và không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ nần chung. Hiện tại chị là người trực tiếp nuôi con, chị yêu cầu anh V đóng góp tiền nuôi con 4.000.000 đồng/1 tháng, vì chi phí nuôi con cao, đồng thời chị cung cấp một số hóa đơn thuốc chữa bệnh cho con; Về án phí DSST chị yêu cầu anh V phải chịu.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- - Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện tốt, bị đơn thực hiện tương đối tốt các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự.
- - Về nội dung vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lý Văn V. Anh V được ly hôn với chị Trần Thị Thúy V1. Vì, vợ, chồng đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài, hôn nhân đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung cho chị V1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp với việc chi phí nuôi con là có căn cứ; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; Án phí dân sự sơ thẩm anh V phải chịu toàn bộ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX xét thấy, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố K nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án thành phố K giải quyết là đúng quy định của pháp luật; Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt các đương sự như đề nghị của đại diện VKS là đúng pháp luật cần chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
- - Quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn V và chị Trần Thị Thúy V1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, việc kết hôn là tự nguyện, được xác định là hôn nhân hợp pháp.
- - Xét nguyên nhân mâu thuẫn: Anh Lý Văn V xin ly hôn với chị Trần Thị Thúy V1, chị V1 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh V. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng anh V và chị V1 xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, xúc phạm nhau. Vợ, chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 10 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai, không giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình, không có sự tôn trọng nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Hôn nhân của anh V và chị V1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, anh V yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị V1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và Ga đình và khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình cần chấp nhận.
- - Về con chung: Xét về yêu cầu của anh V được trực tiếp nuôi con nhưng anh đã tự nguyện thay đổi yêu cầu này và yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, anh đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng. HĐXX xét thấy, vợ, chồng anh V và chị Vi sinh được 01 con chung là Lý Gia B, sinh ngày 12/9/2017. Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định thì khi ly hôn vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng khi Tòa án tiến hành hòa giải thì chị V1 không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung, không thỏa thuận được việc nuôi con sau ly hôn. Tại đơn xin xét xử vắng mặt thì chị V1 yêu cầu anh V đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 4.000.000 đồng. HĐXX xét thấy, để đảm bảo mọi quyền lợi của con chưa thành niên khi cha, mẹ ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình thì hiện tại chị V1 là người đang trực tiếp nuôi con, có sự giúp đỡ việc chăm sóc con và giúp về kinh tế từ bố, mẹ chị V1; Về tiền cấp dưỡng nuôi con thấy rằng, con chung của anh, chị bị đau ốm phải đi chữa trị chi phí nhiều, mặc dù anh V thu nhập không ổn định nhưng anh V yêu cầu đóng 1.500.000 đồng là không phù hợp với chi phí nuôi con. Việc chị V1 yêu cầu đóng góp 4.000.000 đồng là không phù hợp với thu nhập của anh V 01 tháng 5.000.000 đồng (BL35) nên cần chấp nhận về số tiền cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/1 tháng như đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Về thời gian cấp dưỡng, mặc dù anh, chị không còn chung sống với nhau nhưng hai bên vẫn có trách nhiệm cùng nuôi con (BL 26, 27) nên thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp. Về lãi suất chậm trả do các đương sự không thỏa thuận được nên anh V phải chịu theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng anh V phải chịu toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Áp dụng khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- - Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn anh Lý Văn V.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn V được ly hôn chị Trần Thị Thúy V1.
- - Về con chung: Giao con chung là Lý Gia B, sinh ngày 12/9/2017 cho chị Trần Thị Thúy V1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, anh Lý Văn V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng, kể từ ngày 03/4/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh Lý Văn V có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật mà bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm (Án phí ly hôn sơ thẩm) là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng; án phí của người phải cấp dưỡng định kỳ là 300.000 đồng anh Lý Văn V. Tổng cộng là 600.000 (Sáu trăm ngàn) đồng anh Lý Văn V phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Lý Văn V đã nộp theo biên lai số 0000269 ngày 22/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Anh Lý Văn V còn phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Vũ Thị Hồng Dung |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
