TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HC-ST Ngày 14-02-2025 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Văn Chum.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng;
Bà Trương Thị Thu Hà;
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Xông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLST-HC ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Đào Văn Đ, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ A, đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp cho người khởi kiện: Bà Lê Trần Vân A, sinh năm 1977; địa chỉ: phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 21/11/2023); vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người bị kiện:
+ Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp cho Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T: Ông Đoàn Hồng T, chức vụ: Chủ tịch; là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân phường H; địa chỉ: khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Thúy H, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và Đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, người khởi kiện ông Đào Văn Đ trình bày:
Ông Đào Văn Đ là chủ sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02007) ngày 14/8/2012 do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ.
Thửa đất này là một phần nằm trong diện tích đất mà ông Trương Thanh T1 mua từ UBND xã H vào năm 1995.
Ngày 19/3/2002, Hội đồng đăng ký đất đai của UBND xã H đã xét duyệt cho ông Trương Thanh T1 đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ. Sau đó, ngày 18/12/2002, ông Trương Thanh T1 được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số 01525. Sau đó ông T1 có làm các thủ tục xoá nợ nghĩa vụ tài chính, đo đạc thực tế khu đất theo quy định.
Ngày 09/6/2006, ông Trương Thanh T1 lập thủ tục tách thửa, chuyển nhượng một phần cho 7 hộ gia đình, cá nhân, trong đó có ông Đào Văn P và bà Vũ Thị Đ1 (là cha mẹ ông Đào Văn Đ), thửa đất số 398 nói trên theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được UBND xã H chứng thực ngày 14/6/2006.
Ngày 08/8/2006, ông P, bà Đ1 được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AĐ 782994, số vào sổ H 00791.
Năm 2010 bà Vũ Thị Đ1 chết, ông P và những người thừa kế hợp pháp khác đã đồng ý giao quyền sử dụng đất này cho ông Đào Văn Đ theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế do Văn phòng C1, công chứng ngày 06/07/2012, số công chứng 000942, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 14/8/2012, ông Đào Văn Đ được cấp GCNQSDĐ số BK 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02007).
Trong quá trình sử dụng từ khi được cấp GCNQSDĐ đầu đến nay, việc sử dụng đất có nhiều biến động về việc chuyển nhượng, thừa kế nhưng các giao dịch của ông Đào Văn Đ là hoàn toàn công khai, ngay tình, hợp pháp; ông Đào Văn Đ luôn tuân thủ và thực hiện đúng quy định của pháp luật về đất đai và các quy định pháp luật có liên quan, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước và được sự công nhận của UBND huyện T – cơ quan Nhà nước quản lý đất đai đúng thẩm quyền, thông qua bằng các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, ngày 06/07/2023, UBND thành phố T ban hành các Quyết định thu hồi đất số 2195/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ vì lý do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng đối tượng sử dụng đất.
Do không đồng ý với lý do thu hồi nêu trên, ông Đào Văn Đ có làm đơn khiếu nại về Quyết định thu hồi đất trên của UBND thành phố T và gửi tới Chủ tịch UBND thành phố T khiếu nại và yêu cầu thu hồi Quyết định số 2195/QĐ-UBND của UBND thành phố T.
Ngày 16/10/2023, ông Đào Văn Đ nhận được Quyết định số 5602/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu nêu trên của tôi.
Kết quả giải quyết khiếu nại: Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/07/2023 của UBND thành phố T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ.
Ông Đào Văn Đ không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại này do đất này là cha mẹ ông Đào Văn Đ được nhận chuyển nhượng, ông Đào Văn Đ nhận thừa kế, nhận chuyển quyền hợp pháp và đã được cấp giấy chứng nhận theo đúng trình tự quy định của pháp luật đất đai. Lý do thu hồi do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng đối tượng sử dụng đất là hoàn toàn không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ.
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013 có quy định:
“Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”
Ông Đào Văn Đ là những người sử dụng đất ngay tình, có quá trình chuyển nhượng đăng ký cấp giấy chứng nhận và đăng ký biến động quyền sử dụng đất công khai, minh bạch, từ nhiều năm qua và hoàn toàn được sự công nhận từ UBND huyện T – là cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai.
Việc UBND thành phố T ban hành Quyết định thu hồi và Chủ tịch UBND thành phố T giải quyết khiếu nại căn cứ trên cơ sở đất “cấp không đúng đối tượng sử dụng đất” nhưng lại không xem xét đến việc khu đất đó đã được thực
hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật đất đai dẫn đến việc giải quyết khiếu nại chưa hợp tình, hợp lý, áp dụng không đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của ông Đào Văn Đ nên ông Đ không đồng ý với nội dung các quyết định hành chính này.
Vì vậy ông Đào Văn Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Tuyên hủy Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/07/2023 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương ban hành về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ;
- - Tuyên hủy quyết định số 5602/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu.
* Tại Văn bản số 1344/UBND-NC ngày 28/3/2024 và Văn bản số 4862/UBND-NC ngày 25/9/2024 người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T và UBND thành phố T trình bày:
1. Về việc ban hành Quyết định số 2197/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 của UBND thành phố T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 782995 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00796) ngày 08/8/2006 do UBND huyện (thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim H1.
Năm 2000, bà Võ Thị H2 có đơn tố cáo gửi UBND tỉnh B và ngày 23/01/2002 Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 1106/QĐ-CT về việc giải quyết đơn tố cáo của bà Võ Thị H2, ngụ tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Bình Dương. Trong đó, tại khoản 2 Điều 1 có nêu: “Thu hồi khu đất diện tích 6.500 m² của Hội Bảo Thọ, do UBND xã Hội Nghĩa bán trái phép cho ông Bùi Nguyên Q và ông Trương Thanh T1 và giao UBND huyện T quản lý sử dụng theo quy định”.
Thực hiện Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 12/9/2002 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 995/QĐ-CT về việc thu hồi đất theo Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Theo đó, tại Điều 1 có nêu:
- “1. Nay thu hồi khu đất diện tích 6.500m² tọa lạc tại tổ B, ấp D xã Hội Nghĩa, do UBND xã Hội Nghĩa bán đất trái phép cho ông Bùi Nguyên Q ấp 2 xã Hội Nghĩa và ông Trương Thanh T1 ngụ tại thị trấn U.
- 2. Giao diện tích 6.500m² trên cho UBND xã H quản lý và sử dụng theo qui định”.
Tuy nhiên, trên thực tế UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên chưa thiết lập được quyền quản lý đất đai đối với khu đất 6.500 m² nêu trên ngoài thực địa. Bên cạnh đó, do công tác quản lý chưa chặt chẽ (không ngăn chặn biến động kịp thời) nên trong thời điểm từ năm 2002 đến năm 2018, UBND huyện T,
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đã cho biến động tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 11 hộ gia đình, cá nhân (trong đó, có ông Đào Văn Đ).
Đến năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh thành lập Đoàn thanh tra công tác quản lý, sử dụng quỹ đất do Nhà nước quản lý của UBND xã H và ngày 19/8/2019, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND về công tác quản lý, sử dụng quỹ đất do Nhà nước quản lý của UBND xã Hội Nghĩa, thị xã T và việc triển khai thực hiện Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh. Theo đó, kết luận thanh tra yêu cầu UBND thị xã T: “Tiếp tục xử lý thu hồi diện tích 6.500 m² có nguồn gốc do Hội Bảo Thọ quản lý theo đúng quy định pháp luật và Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh...”.
Sau khi có Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND, UBND thị xã xét thấy các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi nhận chuyển nhượng và đã được cấp giấy chứng nhận. Do đó, ngày 28/10/2019, UBND thị xã T có Văn bản số 4680/UBND-SX về việc các nội dung liên quan đến khu đất 6500m² thuộc xã Hội N có nguồn gốc của Hội B. Trong đó, kiến nghị UBND tỉnh xem xét không thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thuộc khu đất có diện tích 6.500m² để tránh phát sinh khiếu nại.
Ngày 13/01/2022, UBND thị xã T tiếp tục có Báo cáo số 12/BC-UBND về một số khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực đất đai; bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị xã T. Trong đó, có báo cáo khó khăn, vướng mắc về thu hồi đất Hội Bảo Thọ tại phường H và tiếp tục kiến nghị UBND tỉnh xem xét không thu hồi đất và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thuộc khu đất có diện tích 6.500 m² để tránh phát sinh khiếu kiện.
Ngày 28/02/2022, UBND tỉnh đã có Thông báo số 41/TB-UBND, trong đó, có ý kiến kết luận về thu hồi đất Hội B tại phường H như sau: “Yêu cầu UBND thị xã T tiếp tục thực hiện xử lý thu hồi diện tích 6.500 m² có nguồn gốc do Hội Bảo Thọ quản lý theo đúng quy định pháp luật và Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh theo yêu cầu tại Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND ngày 19/8/2019 của UBND tỉnh”.
Đồng thời, ngày 30/6/2022, Chủ tịch UBND tỉnh B cũng đã thành lập Đoàn thanh tra về thực hiện kiến nghị, kết luận thanh tra của Bộ, ngành Trung ương, Kiểm toán nhà nước và địa phương tại UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên và ngày 30/12/2022, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Kết luận thanh tra số 466/KL-UBND, trong đó yêu cầu UBND thị xã T tiếp tục thực hiện nghiêm Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND ngày 19/8/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B và yêu cầu tổ chức kiểm điểm các cá nhân, tập thể có liên quan để xảy ra sai sót. Đến nay, thành phố T đã tổ chức kiểm điểm các cá nhân, tập thể có liên quan như: Ban Thường vụ Huyện ủy giai đoạn 2002-2006; UBND phường H; Chủ tịch UBND thành phố và các cán bộ, công chức có liên quan...
Bên cạnh đó, ngày 20/12/2022, Sở T3 có Văn bản số 4757/STNMT-CCQLĐĐ về việc liên quan đến khu đất có nguồn gốc của Hội B tại phường H. Trong đó, có nội dung: “Việc UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân nhận chuyển nhượng liên quan đến khu đất là không phù hợp quy định.”.
Ngày 09/01/2023, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 80/UBND-KT về việc liên quan đến khu đất có nguồn gốc của Hội B tại phường H. Trong đó, chỉ đạo UBND thị xã T khẩn trương triển khai thực hiện việc thu hồi đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của khu đất 6500m² của Hội Bảo Thọ theo đúng quy định.
Từ các nội dung trên, đồng thời nhận thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ là chưa đảm bảo (trong đó, có hộ ông Đào Văn Đ), ngày 06/7/2023, UBND thành phố đã ban hành quyết định số 2197/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 782996 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00796) ngày 08/8/2006 do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ.
2. Về việc ban hành Quyết định số 5601/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đào Văn Đ
Không đồng ý nội dung Quyết định số 2197/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 của UBND thành phố T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 782996 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00796) ngày 08/8/2006 do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ, ngày 15/8/2023, ông Đào Văn Đ có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND thành phố T.
Quá trình xác minh, UBND thành phố T nhận thấy:
- - Về thẩm quyền và trình tự thủ tục:
- + Tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; “2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.”. Do đó, việc UBND thành phố ban hành Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng thẩm quyền.
- + Tại điểm a khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP): “b) Trường hợp cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp...”. Đối với diện tích 6500m² đã được kết luận là sai, do đó xét về trình tự là chưa đảm bảo.
- - Về nội dung:
- + Khu đất có diện tích 6.500m² là đất công của Hội B. Đảng ủy và UBND xã H có chủ trương bán cho ông Bùi Nguyên Q và ông Trương Thanh T1 là trái quy định của pháp luật đã được Chủ tịch UBND tỉnh B chỉ rõ tại Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002.
- + Sau khi đã có Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh và Quyết định số 995/QĐ-CT ngày 12/9/2002 của Chủ tịch UBND huyện T về việc thu hồi đất theo Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Tuy nhiên, UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Thanh T1 là sai quy định.
- + Trong giai đoạn 2002 đến năm 2018, UBND thành phố T chưa quản lý tốt đã để biến động đất đai từ ông Trương Thanh T1 sang 07 hộ gia đình, cá nhân (trong đó, có ông Đào Văn Đ).
- + Theo Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND ngày 19/8/2019 và Kết luận thanh tra số 466/KL-UBND ngày 31/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh B; Thông báo số 41/TB-UBND ngày 28/02/2022 và Văn bản số 80/UBND-KT ngày 09/01/2023. UBND tỉnh B đã yêu cầu UBND thành phố T phải thực hiện thu hồi đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thuộc khu đất 6500m² của Hội Bảo Thọ nêu trên.
- + Bên cạnh đó, thửa đất số 63, tờ bản đồ 11 của ông Đào Văn Đ cũng đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên phê duyệt danh mục quỹ đất do Nhà nước quản lý tại Quyết định số 2159/QĐ-UBND ngày 19/7/2021.
Từ những nội dung trên, cho thấy việc UBND thành phố ban hành Quyết định số 2197/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 của UBND thành phố T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 782996 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00796) ngày 08/8/2006 do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ2 đúng quy định pháp luật về đất đai.
Do đó, ngày 16/10/2023, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 5601/QĐ-UBND: Giữ nguyên Quyết định số 2197/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 782995 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H 00796) ngày 08/8/2006 do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ2 đúng quy định.
3. Về ý kiến đối với các yêu cầu của người khởi kiện
Xét thấy, việc UBND thành phố ban hành Quyết định số 2197/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 782996 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H 00796) ngày 08/8/2006 do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ3 quy định pháp luật về đất đai và việc Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 5601/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 để giải quyết khiếu nại (lần đầu) là phù hợp quy định pháp luật. Do đó, UBND thành phố đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về sơ sở ban hành Quyết định 2159/QĐ-UBND ngày 19/7/2021 về việc phê duyệt danh mục đất do Nhà nước quản lý trên địa bàn thị xã T:
Qua rà soát và Báo cáo số 640/BC-PTNMT ngày 23/9/2024 của Phòng T4, UBND thành phố T có ý kiến như sau: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 5 của quy định về quản lý và sử dụng quỹ đất do Nhà nước quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo quyết định số 37/2016/QĐ-UBND ngày 30/9/2016 của UBND tỉnh B có nêu: “Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định phê duyệt danh mục quỹ đất công cho Ủy ban nhân dân cấp xã để quản lý, sử dụng và gửi về Sở T3 để lập thủ tục giao đất và cấp giấy chứng nhận đối với tất cả các khu đất hiện đang quản lý, sử dụng (kể cả đất công ích).”. Theo đó, UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên đã ban hành Quyết định số 2159/QĐ-UBND ngày 19/7/2021 về việc phê duyệt danh mục đất do Nhà nước quản lý trên địa bàn thị xã T.
* Tại Văn bản số 219/UBND-ĐC ngày 07/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường H trình bày:
- Về nguồn gốc thửa đất số 398 tờ bản đồ số 11:
Hội B Nghĩa là tiền thân của Hội Người cao tuổi xã Hội Nghĩa, thuộc quản lý của UBND xã H, có trụ sở tại ấp B xã H. Giai đoạn 1995 -1996, Đảng ủy và UBND xã H có chủ trương sang nhượng một phần đất của Hội B có diện tích 6.500 m² (tuy nhiên diện tích thực tế là 6.102m², nguyên nhân là do khu đất được đo đạc thực tế nên có sai lệch về diện tích) cho 02 hộ dân là ông Bùi Nguyên Q1 phần đất có diện tích 4.671 m² (thửa đất số 64 tờ bản đồ số 11) với số tiền là 13.500.000 đồng và ông Trương Thanh T1 phần đất có diện tích 1.431 m² (thửa đất số 63 tờ bản đồ số 11, theo GCN QSDĐ là 1373 m² nhưng đo đạc thực tế là 1.431 m²) với số tiền là 10.000.000 đồng. Tổng số tiền thu từ việc sang nhượng khu đất trên là 23.500.000 đồng được sử dụng để xây dựng lại Trụ sở Hội B. Đến khoảng năm 2000, Hội B chuyển thành Hội Người cao tuổi thuộc quản lý của UBND xã H, do đó đã thanh lý trụ sở Hội và chuyển vào chung với trụ sở UBND xã.
Căn cứ theo hồ sơ địa chính, ngày 22/6/2001 ông Trương Thanh T1 có nộp Đơn xin Đăng ký Quyền sử dụng đất (Hội đồng đăng ký đất xã Hội Nghĩa họp xét duyệt ngày 19/3/2002)
Ngày 18/12/2022, ông Trương Thanh T1 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 01525 QSDĐ/TU thuộc thửa đất số 63 tờ bản đồ 11, diện tích 1.373 m²; Loại đất: Thổ: 400 m², Vườn: 973 m². Tiếp đó ngày 18/10/2005 và ngày 02/6/2006, ông Trương Thanh T1 được chỉnh lý nội dung xóa nợ trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử dụng đất và chỉnh lý tăng diện tích 58m² tại thửa đất số 63 tờ bản đồ số 11, nâng diện tích lên thành 1.431m² (ODT: 400m², CLN: 1.031m²)
Đến ngày 09/6/2006, ông Trương Thanh T1 lập thủ tục tách thửa chuyển nhượng cho 07 trường hợp gồm 02 cá nhân và 05 hộ gia đình, trong đó có hộ ông Đào Văn P và bà Vũ Thị Đ1 (là ba và mẹ của ông Đào Văn Đ) là người
đứng tên GCN QSDĐ số H 000791 ngày 08/8/2006 đối với thửa đất số 398 tờ bản đồ số 11 phường H, diện tích 179m²; Loại đất: 124m² ODT; 55m² CLN.
Ngày 14/8/2012, ông Đào Văn Đ được nhận thừa kế thửa đất số 398 tờ bản đồ số 11 nêu trên (từ bà Vũ Thị Đ1 – mẹ ruột của ông Đào Văn Đ) và được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH02007.
- Về nguyên nhân thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Trước đó vào năm 2000, bà Võ Thị H2 có đơn tố cáo gửi UBND tỉnh B và ngày 23/01/2002 Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 1106/QĐ-CT về việc giải quyết đơn tố cáo của bà Võ Thị H2, ngụ tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Bình Dương. Trong đó, tại khoản 2 Điều 1 có nêu “Thu hồi khu đất diện tích 6.500 m² của Hội Bảo Thọ, do UBND xã Hội Nghĩa bán trái phép cho ông Bùi Nguyên Q và ông Trương Thanh T1 và giao UBND huyện T quản lý sử dụng theo quy định”.
Trên cơ sở đó, ngày 12/9/2002 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 995/QĐ-CT về việc thu hồi đất theo Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Đồng thời Huyện ủy Tân Uyên ban hành Thông báo kết luận số 107-TB/HU ngày 22/10/2007 về việc Ý kiến kết luận và chỉ đạo của Ban thường vụ Huyện ủy về việc xử lý và khắc phục hậu quả các vi phạm của cấp ủy và cá nhân đảng viên vi phạm ở Đảng bộ xã Hội N. Do công tác quản lý chưa chặt chẽ (không ngăn chặn biến động kịp thời) nên trong thời điểm từ năm 2002 đến năm 2018, UBND huyện T đã cho biến động tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 11 hộ gia đình, cá nhân (trong đó có trường hợp của ông Đào Văn Đ).
Ngày 04/01/2013, UBND xã H có mời ông Đào Văn P– người nhận chuyển nhượng thửa đất số 398 tờ bản đồ số 11 từ ông Trương Thanh T1 để thông báo nội dung Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của UBND tỉnh B, qua đó ông Đào Văn Đ có ý kiến là thửa đất trên ông P nhận chuyển nhượng và được cấp GCN QSDĐ, do đó đề nghị đề nghị xem xét giải quyết để tạo thuận lợi trong việc sử dụng đất của mình. Trên cơ sở đó, UBND xã có Báo cáo số 16/BC-UBND ngày 25/02/2013 về tình hình thực hiện theo Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của UBND tỉnh B và Thông báo kết luận số 107-TB/HU ngày 22/10/2007 của huyện ủy T5.
Bên cạnh đó, UBND xã (nay là phường) Hội N đã có kiến nghị UBND huyện (nay là thành phố T) xem xét, xin ý kiến UBND tỉnh B về việc giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc thu hồi các thửa đất có nguồn gốc đất Hội Bảo Thọ mà đã cấp GCN QSDĐ cho các hộ dân (Báo cáo số 79/BC-UBND ngày 29/9/2012 về tình hình thực hiện Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của UBND tỉnh B; Công văn số 76/UBND-KT ngày 04/6/2013 về việc thực hiện công văn số 240/UBND-KTN ngày 28/01/2013 của UBND tỉnh B).
Đến năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh đã thành lập Đoàn thanh tra công tác quản lý, sử dụng quỹ đất do Nhà nước quản lý của UBND xã H và ngày
19/8/2019 Chủ tịch UBND tỉnh B đã ban hành Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND về công tác quản lý, sử dụng quỹ đất do Nhà nước quản lý của UBND xã Hội Nghĩa, thị xã T và việc triển khai thực hiện Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh. Theo đó, kết luận thanh tra yêu cầu UBND thị xã T: “Tiếp tục xử lý thu hồi diện tích 6.500 m² có nguồn gốc do Hội Bảo Thọ quản lý theo đúng quy định pháp luật và Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh...”. Đồng thời, ngày 30/6/2022 Chủ tịch UBND tỉnh B cũng đã thành lập Đoàn thanh tra về thực hiện kiến nghị, kết luận thanh tra của Bộ, ngành Trung ương, Kiểm toán nhà nước và địa phương tại UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, sau đó Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Kết luận thanh tra số 466/KL-UBND ngày 30/12/2022, trong đó yêu cầu UBND thị xã T tiếp tục thực hiện nghiêm Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND ngày 19/8/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B.
Để đảm bảo công tác quản lý đất đai công, đất công ích trên địa bàn trong thời gian chờ hướng dẫn, chỉ đạo của ngành cấp trên, UBND phường đã Báo cáo số 216/BC-UBND ngày 25/02/2021 về tình hình quản lý đất công, đất công ích trên địa bàn phường H, trong đó thể hiện các thửa đất có nguồn gốc Hội Bảo Thọ vào danh mục đất công đang quản lý và cũng đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên phê duyệt danh mục quỹ đất do Nhà nước quản lý tại Quyết định số 2159/QĐ-UBND ngày 19/7/2021.
Ngoài ra, UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên đã xây dựng và ban hành Kế hoạch số 2730/KH-UBND ngày 10/8/2021 về việc giải quyết các thửa đất công, đất công ích có phát sinh khó khăn vướng mắc; đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức đang sử dụng; đất tranh chấp, đất lấn chiếm; đất diện 188 trên địa bàn thị xã T. UBND phường cũng đã cụ thể hóa thành Kế hoạch số 1349/KH-UBND ngày 10/11/2021 về việc giải quyết các thửa đất công, đất công ích có phát sinh khó khăn vướng mắc; đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức đang sử dụng; đất tranh chấp trên địa bàn phường H. Trong đó, các kế hoạch trên đều có nội dung thu hồi diện tích 6.500 m² có nguồn gốc do Hội Bảo Thọ quản lý theo đúng quy định pháp luật và Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh.
Ngày 06/7/2023 UBND thành phố đã ban hành các Quyết định về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nguồn gốc Hội Bảo Thọ. Trong đó, đối với thửa đất do ông Đào Văn Đ đang sử dụng thì UBND thành phố ban hành Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 757336 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ.
Căn cứ tại điểm a khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP): “b) Trường hợp cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp...”
Từ những căn cứ pháp lý nêu trên, UBND phường H nhận thấy UBND thành phố ban hành Quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T (nay là UBND thành phố T) đã cấp đối với ông Đào Văn Đ đúng quy định pháp luật về đất đai.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Đ, tuyên hủy Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử đất số AĐ 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ; hủy Quyết định số 5602/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại ông Đào Văn Đ (lần đầu).
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan, toàn diện về những tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thời hiệu khởi kiện: theo Đơn khởi kiện nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, ông Đào Văn Đ yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- - Tuyên hủy Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương ban hành về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ;
- - Tuyên hủy quyết định số 5602/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu.
Căn cứ Điều 116, Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Đ còn trong thời hạn luật định.
[1.2] Về thẩm quyền:
Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương ban hành và Quyết định số 5604/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 do Chủ tịch UBND thành phố T ban hành. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 30, 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện bà Lê Trần Vân A; người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt). Căn cứ khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung
Ông Đào Văn Đ là chủ sử dụng đối với thửa đất số 398, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 757336, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02007 ngày 14/8/2012. Thửa đất số 398 tờ bản đồ số 11 có nguồn gốc:
Diện tích đất 6.500m² (đo đạc thực tế là 6.102m²) là đất của Hội Bảo Thọ (hiện Hội Bảo Thọ không còn tồn tại), thuộc quản lý của UBND xã H. Năm 1996, Đảng ủy và UBND xã (nay là phường) Hội N có chủ trương bán đất cho 02 hộ dân gồm ông Bùi Nguyên Q (đã chết) một phần diện tích 4.671m² và ông Trương Thanh T1 (đã chết) một phần diện tích đất 1.431m².
Năm 2000, bà Võ Thị Thu H2 có đơn tố cáo đến UBND tỉnh B liên quan đến việc UBND xã Hội nghĩa chuyển nhượng đất của Hội B.
Ngày 23/01/2002, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 1106/QĐ-CT về việc giải quyết đơn tố cáo của bà Võ Thị Thu H2, trong đó có nội dụng “... thu hồi khu đất có diện tích 6.500m² của Hội Bảo Thọ, do UBND xã Hội Nghĩa bán trái phép cho ông Bùi Nguyên Q và ông Trương Thanh T1 và giao UBND huyện T quản lý sử dụng theo quy định”.
Ngày 15/4/2002, Thanh tra huyện T lập Biên bản công bố Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 cho UBND xã H.
Căn cứ vào Quyết định số 1106/QĐ-CT Ngày 23/01/2002. Ngày 12/9/2002, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 995/QĐ-CT về việc thu hồi đất theo Quyết định số 1106/QĐ-CT, với nội dung: “... thu hồi khu đất có diện tích 6.500m²do UBND xã Hội Nghĩa bán trái phép cho ông Bùi Nguyên Q; giao cho UBND xã H quản lý, sử dụng theo quy định,”.
Ngày 06/01/2003, Thanh tra huyện T đã công bố và bàn giao Quyết định số 995/QĐ-CT cho ông Bùi Nguyên Q1, ông Trương Thanh T2, UBND xã H, sau khi nhận quyết định không ai khiếu nại.
Tuy nhiên, UBND huyện T và UBND xã H không thực hiện thu hồi và thiết lập quản lý khu đất 6.500m², mà vẫn cho phép thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, biến động chuyển nhượng, tách thửa và cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với khu đất 6.500m², cụ thể:
Ngày 19/3/2002, Hội đồng đăng ký đất xã Hội Nghĩa họp xét duyệt đơn đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Trương Thanh T2 (đơn đề ngày 22/6/2001).
Ngày 18/12/2002, ông Trương Thanh T1 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 01525 QSDĐ/TU thuộc thửa đất số 63 tờ bản
đồ 11, diện tích 1.373m². Tiếp đó ngày 18/10/2005 và ngày 02/6/2006, ông Trương Thanh T1 được chỉnh lý nội dung xóa nợ trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử dụng đất và chỉnh lý tăng diện tích 58m² tại thửa đất số 63 tờ bản đồ số 11, nâng diện tích lên thành 1.431m².
Ngày 09/6/2006, ông Trương Thanh T1 lập thủ tục tách thửa chuyển nhượng cho 07 trường hợp gồm 02 cá nhân và 05 hộ gia đình, trong đó có hộ ông Đào Văn P và bà Vũ Thị Đ1 (là cha, mẹ của ông Đào Văn Đ)
Ngày 22/10/2007, Huyện ủy huyện T5 ban hành Thông báo số 107-TB/HU thông báo ý kiến kết luận và chỉ đạo, với nội dung “xử lý, kỷ luật cán bộ không thực hiện thu hồi diện tích đất 6.500m²...”.
Ngày 29/9/2012, UBND xã H ban hành Báo cáo số 79/BC-UBND báo cáo tình hình thực hiện Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 (...kiến nghị cấp QSDĐ cho 11 hộ dân).
Ngày 28/02/2022, UBND tỉnh B đã có Thông báo số 41/TB-UBND, trong đó có ý kiến kết luận về thu hồi đất Hội B tại phường H như sau: “Yêu cầu UBND thị xã T tiếp tục thực hiện xử lý thu hồi diện tích 6.500 m² có nguồn gốc do Hội Bảo Thọ quản lý theo đúng quy định pháp luật và Quyết định số 1106/QĐ-CT ngày 23/01/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh theo yêu cầu tại Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND ngày 19/8/2019 của UBND tỉnh”.
Ngày 20/12/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T3 có Văn bản số 4757/STNMT-CCQLĐĐ về việc liên quan đến khu đất có nguồn gốc của Hội B tại phường H. Trong đó, có nội dung: “Việc UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân nhận chuyển nhượng liên quan đến khu đất là không phù hợp quy định.”
Ngày 09/01/2023, UBND tỉnh B ban hành Văn bản số 80/UBND-KT về việc liên quan đến khu đất có nguồn gốc của Hội B tại phường H. Trong đó, chỉ đạo UBND thị xã T khẩn trương triển khai thực hiện việc thu hồi đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của khu đất 6500 m² của Hội Bảo Thọ theo đúng quy định.
Ngày 30/12/2022, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Kết luận thanh tra số 466/KL-UBND, trong đó yêu cầu UBND thị xã T tiếp tục thực hiện nghiêm Kết luận thanh tra số 166/KL-UBND ngày 19/8/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B và yêu cầu tổ chức kiểm điểm các cá nhân, tập thể có liên quan để xảy ra sai sót.
Ngày 06/7/2023 của UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2195/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 757336 ngày 14/8/2012 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Đào Văn Đ.
Không đồng ý với Quyết định số 2195/QĐ-UBND, ông Đào Văn Đ đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố T.
Ngày 16/10/2023, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5602/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đào Văn Đ (lần đầu),
với nội dung không chấp nhận yêu cầu của ông Đ.
[3] Xét yêu cầu của người khởi kiện.
[3.1] Đối với Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 của UBND thành phố T.
Tại mục 5 khoản 26 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai quy định:
“5. Nhà nước không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu tài sản gắn liền với đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật...”.
Như nhận định tại mục [2], nguồn gốc thửa đất số 398, tờ bản đồ số 11 được tách từ thửa 63, tờ bản đồ số 11 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Thanh T1, ông T1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đào Văn P bà Vũ Thị Đ1. Năm 2010, bà Đ1 chết, ông P và các đồng thừa kế của bà Đ1 tiến hành phân chia di sản thừa kế và ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.
Đối chiếu với quy định trên, việc UBND thành phố T ban hành Quyết định số 219/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 là không đúng quy định.
[3.2] Đối với Quyết định số 5062/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đào Văn Đ (lần đầu).
Như nhận định tại mục [3.1], việc UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 không đúng quy định pháp luật. Do đó, việc Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5062/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 là không đúng quy định.
[4] Từ những nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận, người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 32, 115, 116 khoản 1 Điều 158, Điều 164, điểm b khoản 2 Điều 193 và Điều 194 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Đào Văn Đ:
- - Hủy Quyết định số 2195/QĐ-UBND ngày 06/7/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử đất số AĐ 757336 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02007) ngày 14/8/2012 do UBND huyện T (nay là thành phố T) cấp cho ông Đào Văn Đ.
- - Hủy Quyết định số 5602/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc giải quyết đơn khiếu nại ông Đào Văn Đ (lần đầu).
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Người bị kiện UBND thành phố T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Đào Văn Đ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000056 ngày 22/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn C |
Bản án số 14/2025/HC-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 14/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
