|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/DSST Ngày: 16/6/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Sỹ Thông
- Ông Nguyễn Duy Chấn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil tham gia phiên toà: Bà Niê Đoan Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2025/TLST- DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13A/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QÐST- DS ngày 14 tháng 5 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 10/2025/TB-TA ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A); Địa chỉ: Số B L, phường T, Q. B, Tp ..
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Công N. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N2, Chi nhánh Đ.
Người được ông Phan Công N ủy quyền lại: Ông Bùi Đình T. Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N2, Chi nhánh Đ – có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Số A L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Bị đơn: Ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M; Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng N1 và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền trong quá trình giải quyết vụ án thì:
Căn cứ hợp đồng cấp tín dụng số 5301-LAV-201800337 ký kết ngày 09/02/2018: Ngân hàng N1 (A) cho ông Lý Văn T1, bà Dương Thị M vay số tiền 500.000.000 đồng; lãi suất cho vay tại thời điểm vay vốn là 10.5 %/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; mục đích vay: Chi phí sản xuất, tiêu dùng gia đình; thời hạn cho vay 12 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 05/02/2019, định kỳ trả gốc 01 kỳ, định kỳ trả lãi là 06 tháng một lần.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: [...]/HĐTC ngày 08/02/2018 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 28, 31 tờ bản đồ số 67, diện tích 27.714,9m² tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; GCNQSDĐ số CL788695 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 26/01/2018 cho bà Dương Thị M và ông Lý Văn T1.
Khi đến hạn trả nợ, Ngân hàng A đã nhiều lần làm việc trực tiếp hoặc có văn bản yêu cầu ông T1, bà M thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, tính đến nay ông T1, bà M mới thanh toán 26.178.083 đồng tiền lãi trong hạn, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, lãi còn lại cho Ngân hàng. Do đó Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu ông Lý Văn T1, bà Dương Thị M phải có nghĩa vụ thanh toán 1.027.085.615 đồng, trong đó có 500.000.000 đồng tiền gốc, 25.890.410 đồng tiền lãi trong hạn, 501.195.205 đồng tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử và tiếp tục trả lãi cho đến khi trả xong nợ.
Trường hợp ông Lý Văn T1, bà Dương Thị M không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Đối với bị đơn ông Lý Văn T1, bà Dương Thị M đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng nên HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Buộc bị đơn ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền 500.000.000 đồng tiền gốc 25.890.410 đồng tiền lãi trong hạn, 501.195.205 đồng tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm 16/6/2025 và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp ông T1, bà M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thu hồi nợ. Về chi phí xem xét thẩm định, án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Về chi phí chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M thanh toán khoản vay tín dụng, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã triệu tập hợp lệ đối với ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M nhưng ông T1, bà M vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Căn cứ hợp đồng tín dụng số 5301-LAV-201800337 ký kết ngày 09/02/2018 giữa Ngân hàng N1 và ông Lý Văn T1, bà Dương Thị M, số tiền vay gốc 500.000.000 đồng; lãi suất cho vay tại thời điểm vay vốn là 10.5 %/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; mục đích vay: Chi phí sản xuất, tiêu dùng gia đình, thời hạn cho vay 12 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 05/02/2019, định kỳ trả gốc 01 kỳ, định kỳ trả lãi là 06 tháng Một lần. Ông T1, bà M đã được giải ngân đầy đủ.
[2.2]. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lý Văn T1, bà Dương Thị M nhưng ông bà không tham gia tố tụng, không có ý kiến cũng như cung cấp các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc để phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Điều 91 BLTTDS quy định:
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Như vậy căn cứ chứng cứ nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng tín dụng giữa các bên thể hiện dưới hình thức văn bản, thể hiện rõ về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, tuân thủ về phạm vi hoạt động, quy định lãi suất theo Điều 90, 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, có ký xác nhận thể hiện sự tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3]. Về nghĩa vụ thanh toán nợ: Sau khi vay, ông T1, bà M không thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi khi đến kỳ trả nợ. Xét thấy ông T1, bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của Ngân hàng N1. Do đó, Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu ông ông bà thanh toán nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.
[2.4]. Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay, các bên đã ký kết hợp đồng thế chấp Hợpthế chấp quyền sử dụng đất số: [...]/HĐTC ngày 08/02/2018 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 28, 31 tờ bản đồ số 67, diện tích 27.714,9m² tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; GCNQSDĐ số CL788695 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 26/01/2018 cho bà Dương Thị M và ông Lý Văn T1, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ1. Nội dung, hình thức của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phù hợp với quy định tại các Điều 317, Điều 319 BLDS 2015; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực. Yêu cầu của Ngân hàng N1 về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong trường hợp ông T1, bà M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ là có cơ sở nên cần chấp nhận.
[2.5]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N1, Chi nhánh Đ2 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) tiền xem xét thẩm định tại chổ Ngân hàng đã nộp trong quá trình giải quyết vụ án.
[2.6]. Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ Điều 180 BLTTDS: Nguyên đơn phải chịu chi phí theo quy định pháp luật.
[2.7]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
[2.8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil tại phiên tòa là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 180, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 317, Điều 318, Điều 319 BLDS 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M.
- Buộc ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền 1.027.085.615 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi bảy triệu không trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm mười lăm đồng) trong đó có 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) tiền gốc, 25.890.410 đ (Hai mươi lăm tám trăm chín mươi nghìn bốn trăm mười đồng) tiền lãi trong hạn, 501.195.205đ (Năm trăm lẻ một triệu một trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm lẻ năm đồng) tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm 16/6/2025.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/6/2025) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 28, 31 tờ bản đồ số 67, diện tích 27.714,9m² tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; GCNQSDĐ số CL788695 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 26/01/2018 cho bà Dương Thị M và ông Lý Văn T1 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất số: [...]/HĐTC ngày 08/02/2018 để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M phải hoàn trả cho Ngân hàng N1, Chi nhánh Đ2 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) Ngân hàng đã nộp và chi phí trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ Điều 180 BLTTDS: Ngân hàng N1 phải chịu 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp và chi phí trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về án phí DST: ông Lý Văn T1 và bà Dương Thị M phải nộp 42.813.000 đồng (Bốn mươi hai triệu tám trăm mười ba nghìn đồng) án phí DSST. Trả lại cho Ngân hàng N1, Chi nhánh Đ2 10.708.000 đồng (Mười triệu bảy trăm lẻ tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006219 ngày 10/01/2025 tại Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Thùy Dung |
Bản án số 14/2025/DSST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng NN và PTNTVN khởi kiện Lý Văn Thăng
