TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/DS-ST
Ngày 26-6-2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức- Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải; Ông Đặng Ngọc Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12A/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐHPT-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ngân hàng N. “A”
Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Ngọc T - Giám đốc A chi nhánh huyện Q
Người được ủy quyền lại: Ông Lương Phú T1- Giám đốc A chi nhánh huyện Qng G
-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990.
Chị Phan Thị L, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa ông Lương Phú T1- đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Anh Nguyễn Văn H và chị Phan Thị L là vợ chồng. Ngày 19/3/2019 anh H ký văn bản ủy quyền cho chị L xác lập thực hiện giao dịch vay vốn tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện Q, phòng G. Ngày 20/3/2019 chị L đại diện hộ gia đình đã ký hợp đồng tín dụng với A Chi nhánh huyện Q, phòng G vay số tiền 150.000.000đồng về để sản xuất, kinh doanh, đời sống của hộ gia đình quy mô nhỏ. Thời hạn của hạn mức tín dụng là 36 tháng; Thời hạn cho vay: theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của chị L; Thời hạn cho vay kỳ hạn nợ cụ thể hai bên thỏa thuận và ghi trong giấy nợ. Căn cứ vào giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 20/3/2019, tổng số tiền giải ngân là 150.000.000 đồng; Kỳ hạn trả nợ (01 kỳ/01 năm) kỳ 1: 50.000.000 đồng; kỳ 2: 50.000.000 đồng; kỳ 3: 50.000.000 đồng; lãi xuất 10,5%/năm; lãi xuất nợ quá hạn là 15.75%/năm; lãi xuất chậm trả 10%/năm. Theo hợp đồng hai bên đã ký kết thì khi đến kỳ hạn trả nợ mà chị L không trả nợ đúng hạn gốc/lãi thì toàn bộ khoản nợ chuyển sang nợ quá hạn. Hình thức vay là tín chấp (không có tài sản bảo đảm)
Quá trình thực hiện hợp đồng anh H và chị L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng khi đến kỳ hạn trả nợ, mặc dù ngân hàng đã có thông báo trả nợ trước đó. Vì vậy ngày 15/4/2020 Ngân hàng đã ra thông báo chuyển nợ quá hạn số tiền nợ gốc 150.000.000đồng và nợ lãi 4.768.151 sang nợ quá hạn.
Kể từ sau thời điểm chuyển nợ quá hạn, ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc anh H và chị L đã trả nợ được 50.000.000 đồng tiền nợ gốc, sau đó vắng mặt tại địa phương và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/6/2025 anh H và chị L còn nợ ngân hàng A chi nhánh huyện Q số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 67.924.792 đồng; nợ lãi quá hạn: 24.206.146 đồng. Tổng là 179.746.691 đồng.
Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh H và chị L phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng A chi nhánh huyện Q số nợ gốc còn lại và nợ lãi theo quy định cho đến khi thanh toán xong toàn bộ hợp đồng.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H và chị Phan Thị L: Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H, chị L lên Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng anh H, chị L đều vắng mặt trong quá trình tố tụng. Tòa án không lấy được lời khai của anh H, chị L và không tiến hành hòa giải được giữa các bên. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh H, chị L vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tổ tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa lần 1 và lần 2, như vậy bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 463, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh H và chị L phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ đối với ngân hàng A chi nhánh huyện Q, trả số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng mà anh H và chị L đã ký kết với ngân hàng A chi nhánh huyện Q tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền là 179.746.691 đồng. Gồm: tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 67.924.792 đồng; nợ lãi quá hạn: 24.206.146 đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 27/6/2025 cho đến ngày anh H và chị L thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, vì vậy trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Áp dụng pháp luật giải quyết: Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng A chi nhánh huyện Q và anh Nguyễn Văn H, chị Phan Thị L được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
[3] Về nội dung:
3.1.Về yêu cầu trả nợ gốc: Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thể hiện vào ngày 19/3/2019 anh H ký văn bản ủy quyền cho chị L xác lập thực hiện giao dịch vay vốn tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện Q, phòng G. Ngày 20/3/2019 chị L đại diện hộ gia đình đã ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q vay số tiền 150.000.000 đồng về để sản xuất, kinh doanh, đời sống của hộ gia đình quy mô nhỏ. Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 3406-LAV-201901433 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 20/3/2019 thể hiện hạn mức tín dụng trung hạn, thời hạn vay 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 3 kỳ tương ứng mỗi kỳ trả nợ 50.000.000 đồng/1 kỳ/1 năm (20/3/2020; 20/3/2021; 20/3/2022). Lãi xuất 10,5%/năm; lãi xuất nợ quá hạn là 15.75%/năm; lãi xuất chậm trả 10%/năm. Theo Hợp đồng hai bên đã ký kết thì khi đến kỳ hạn trả nợ mà chị L không trả nợ đúng hạn gốc/lãi thì toàn bộ khoản nợ chuyển sang nợ quá hạn. Hình thức vay là tín chấp (không có tài sản bảo đảm)
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng khi đến kỳ hạn trả nợ (kỳ 1), anh H và chị L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng A Chi nhánh huyện Q. Sau nhiều lần đôn đốc, anh H và chị L mới trả được 50.000.000 đồng tiền nợ gốc (tính đến thời điểm 10/7/2023). Như vậy anh H, chị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo đã thỏa thuận hợp đồng đã ký kết trước đó với Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ra Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ yêu cầu anh H và chị L phải trả số tiền gốc còn nợ là 100.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.
3.2. Về yêu cầu trả nợ lãi, lãi quá hạn (lãi chậm trả): Theo Hợp đồng tín dụng số 3406-LAV-201901433 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân thể hiện anh H, chị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 21/3/2020. Vì vậy kể từ ngày 21/3/2020 khoản nợ còn lại của anh H và chị L với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu lãi xuất quá hạn kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay phía Ngân hàng yêu cầu anh H và chị L phải trả tiền lãi, lãi chậm trả của khoản nợ gốc còn nợ nêu trên tính đến ngày xét xử sơ thẩm gồm 67.924.792 đồng lãi trong hạn và 24.206.146 đồng lãi quá hạn là có căn cứ, cần chấp nhận. Anh H và chị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày 27/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền còn nợ Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp. Anh H và chị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A chi nhánh huyện Q.
Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Phan Thị L phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng A chi nhánh huyện Q số tiền nợ gốc còn lại là 100.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/6/2025 gồm: 67.924.792 đồng lãi trong hạn và 24.206.146 đồng lãi quá hạn. Tổng số tiền là: 179.746.691 đồng “Một trăm bẩy mươi chín triệu bẩy trăm bốn mươi sáu ngàn sáu trăm chín mốt đồng”
Kể từ ngày 27/6/2025 anh H và chị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí :
Anh H và chị L phải chịu 8.987.000 đồng “Tám triệu chín trăm tám mươi bẩy ngàn” án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại ngân hàng A chi nhánh huyện Q số tiền 4.270.000 đồng đã nộp tạm ứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo biên lai thu số 0000522 ngày 11/02/2025.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 14/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng nguyên đơn Ngân hàng N. “A” Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, TP Hà Nội.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990. Chị Phan Thị L, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.