|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/DS - ST Ngày 20 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải
Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2025/TLST – DS ngày 17/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 5 năm 2025. Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức danh: Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý.
Người được ủy quyền lại: Lường Hữu H – Chuyên viên xử lý nợ pháp lý V1.
2. Bị đơn: Bùi Kim Q, sinh năm 1966 và Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1968
Cùng nơi cư trú: Thôn Y, xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt ông H, vắng mặt ông Q và bà L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày: Ông Bùi Kim Q cùng vợ là Bà Vũ Thị L1 vay vốn của V1 với các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau: Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2307209781116 ngày 27/07/2023, cụ thể:
- - Số tiền cho vay: 1.025.000.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi ăm triệu đồng).
- - Thời hạn cho vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay.
- - Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh lò mổ gia cầm.
- - Lãi suất: Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 10,8%/năm, hạn được cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết Thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- - Tài sản đảm bảo cho hợp đồng nêu trên là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 101, tờ bản đồ số 04, tại địa chỉ: Thôn Y, xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 407283, Số vào sổ cấp GCN: CS00085 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 27/06/2022 cho Ông Bùi Kim Q và Bà Vũ Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2207056146926 ngày 08/07/2022. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng, ông Bùi Kim Q cùng vợ là Bà Vũ Thị L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/02/2024 đối với V1 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng.
Tính đến ngày 20/6/2025, ông Bùi Kim Q cùng vợ là Bà Vũ Thị L1 còn nợ V1 số tiền là: 1.196.214.853 đồng, Trong đó: Nợ gốc: 962,000,000 đồng, L2 trong hạn: 14.236.629 đồng và L2 quá hạn: 219.978.224 đồng
Ngân hàng đề nghị tòa án buộc Ông Bùi Kim Q cùng vợ là Bà Vũ Thị L1 phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên và tiền lãi phát sinh sau ngày 20/6/2025 cho đến khi trả hết nợ cho V1, trường hợp ông Q và bà L1 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ đề nghị Tòa án tuyên V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản nêu trên để thu hồi nợ cho V1, trong đó có tài sản đảm bảo là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất đối với thứa đất số 101, tờ bán đồ số 04, tại địa chỉ: Thôn Y, xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 407283, Số vào sổ cấp GCN: CS00085 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 27/06/2022 cho Ông Bùi Kim Q và Bà Vũ Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2207056146926 ngày 08/07/2022. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
* Đối với bị đơn ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Q và bà L1, trong thời hạn tố tụng ông Q và bà L1 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tại buổi hòa giải ngày 08/5/2025 bà Vũ Thị L1 trình bày:
Vợ chồng tôi thừa nhận có ký hợp đồng với V1 như nguyên đơn trình bày là đúng, cụ thể như sau: Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2307209781116 ngày 27/07/2023, cụ thể:
- - Số tiền cho vay: 1.025.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 12 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh lò mổ gia cầm. Lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng như nguyên đơn trình bày.
- - Tài sản đảm bảo cho hợp đồng nêu trên là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 101, tờ bản đồ số 04, tại địa chỉ: Thôn Y, xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sơ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 407283, Số vào sổ cấp GCN: CS00085 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 27/06/2022 cho Ông Bùi Kim Q và Bà Vũ Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2207056146926 ngày 08/07/2022. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Tôi thừa nhận chữ ký trong hợp đồng thế chấp, hợp đồng cho vay hạn mức là chữ ký của vợ chồng tôi. Tôi thừa nhận khoản vay như ngân hàng trình bày là đúng, cam kết sẽ trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên quá trình vay vốn vợ chồng tôi gặp nhiều khó khăn nên không thể trả nợ đầy đủ cho ngân hàng được. Tôi xin Ngân hàng cho chúng tôi thêm thời gian để trả nợ.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Q và bà L1 phải trả nợ cho Ngân hàng V1 tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2025 là: 1.196.214.853 đồng, trong đó: Nợ gốc: 962,000,000 đồng, L2 trong hạn: 14.236.629 đồng và L2 quá hạn: 219.978.224 đồng và tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả hết nợ.
Nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: V1 yêu cầu ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng, Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Q và bà L1 có địa chỉ cư trú tại xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi:
Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2307209781116 và khế ước nhận nợ ngày 27/07/2023 giữa bên cho vay là V1 và bên vay là ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1. V1 cho vợ chồng ông Q, bà L1 vay số tiền 1.025.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày giải ngân, ngày giải ngân là ngày 02/8/2023; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10,8%/năm lãi suất này được cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 1 tháng 1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm. Bên vay phải trả nợ gốc cho ngân hàng vào ngày kết thúc thời hạn vay; trả lãi định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả lãi đầu tiên là ngày 15/9/2023
Vì vậy, có căn cứ để xác định ngày 02/8/2023 V1 đã giải ngân cho ông Q, bà L1 vay số tiền 1.025.000.000 đồng. Lãi suất cho vay, lãi trong hạn và lãi quá hạn quy định trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình vay vốn ông Q và bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 15/02/2024. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2025 là 1.196.214.853 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 962,000,000 đồng, lãi trong hạn: 14.236.629 đồng và lãi quá hạn: 219.978.224 đồng.
Yêu cầu trên của nguyên đơn và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:
Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Q và bà L1 đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 04; theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 407283 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 27/6/2022 cho ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số LN2207056146926 ngày 08/07/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã N, tỉnh Thanh Hóa ngày 12/7/2022. Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp; theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/4/2025 xác định tài sản thế chấp này không có sự thay đổi so với thời điểm các bên thế chấp. Theo Hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp được bảo đảm cho toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của ông Q và bà L1, hiện tại cũng như tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ khoản nợ gốc, lãi và các khoản phải trả khác theo các hợp đồng tín dụng.
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, nếu ông Q và bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
[4] Về án phí: Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp, được trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 295, 298, 299, 463 và 466 Bộ luật dân sự.
Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa dổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V:
- - Buộc ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V, tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2025 là: 1.196.214.853 đồng (một tỷ, một trăm chín mươi sáu triệu, hai trăm mười bốn nghìn, tám trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc 962.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 14.236.629 đồng và lãi quá hạn: 219.978.224 đồng. Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2307209781116 và khế ước nhận nợ ngày 27/07/2022.
- - Ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1 có nghĩa vụ tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/6/2025 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP V cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Q và bà L1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- - Nếu ông Q và bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất 101, tờ bản đồ số 04, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 407283 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 27/6/2022 cho ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2207056146926 ngày 08/07/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa, để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
3. Về án phí:
- - Ông Bùi Kim Q và bà Vũ Thị L1 phải chịu 47.886.445 đồng (bốn mươi bảy triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.695.000 đồng (hai mươi hai triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0003096 ngày 16/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Q và bà L1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
Phạm Ngọc Sơn |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
|
Bản án số 14/2025/DS - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
