|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/DS- ST Ngày 20 tháng 6 năm 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Minh Triều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:
1, Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1 (S2).
Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D-Tổng giám đốc.
+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Cao B - Chức vụ: Trưởng phòng G (Theo văn bản ủy quyền số 4039/2024/QĐ-PC ngày 27/12/2024 của Tổng giám đốc).
+ Người được ủy quyền lại: Bà Phan Hồng N - Chuyên viên quản lý tín dụng và kiểm soát rủi do- Phòng G (Theo văn bản ủy quyền số 03/2025/GUQ- PGDML ngày 02/01/2025).
Địa chỉ: K thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy B1, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Phiên tòa có mặt ông B, vắng mặt ông B1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 11 năm 2024, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Cao B trình bày:
Theo đề nghị của ông Nguyễn Duy B1, ngày 07/9/2023, Ngân hàng TMCP S1 (S2) - Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) đã cho ông Nguyễn Duy B1 được phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 436438-5549 theo hợp đồng tín dụng này ông B1 được cấp hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, lãi suất 29,8%/ năm; tiếp theo ngày 13/9/2023 ông Nguyễn Duy B1 được cấp khoản vay theo app tiêu dùng số 211251-6756 theo app này ông B1 được cấp hạn mức tín dụng là 45.000.000 đồng, lãi suất 31%/ năm. Khoản vay không phải thế chấp tài sản gì. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông B1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 105.028.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông B1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 58.393.000 đồng. Ngày 25/3/2024 ông Nguyễn Duy B1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng, Ngân hàng đã chuyển số nợ vay còn nợ sang nợ quá hạn. Tính đến hết ngày 20/6/2025 ông B1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 78.056.256 đồng (trong đó nợ gốc là 48.262.471 đồng; nợ lãi quá hạn là 29.793.785 đồng).
Đến nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Duy B1 phải trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng tính đến hết ngày 20/6/2025 là: 78.056.256 đồng (trong đó nợ gốc là 48.262.471 đồng; nợ lãi quá hạn là 29.793.785 đồng) và đề nghị ông B1 phải có trách nhiệm trả lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại hợp đồng kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả hết nợ của Hợp đồng tín dụng.
Bị đơn ông Nguyễn Duy B1, Tòa án báo gọi nhiều lần ông B1 không đến Tòa làm việc nên không có lời trình bày và không tiến hành hòa giải được, tại biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2025 bà Trần Thị H là mẹ đẻ anh B1 trình bày: Việc anh B1 vay tiền của Ngân hàng C như thế nào bà không biết, chỉ khi ngân hàng đến làm việc và Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập thì bà mới biết anh B1 nợ tiền ngân hàng. Hiện nay anh B1 đi làm nhưng thỉnh thoảng vẫn về gia đình bà, những lần Tòa án gửi Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập bà đều thông báo cho anh B1 biết nhưng do anh đi làm không thể đến Tòa án làm việc được. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ bà đề nghị để anh B1 trả nợ gốc và trả dần.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ, bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP S1 (S2) khởi kiện ông Nguyễn Duy B1 bị đơn có địa chỉ tại xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trả nợ số tiền vay còn nợ của hợp đồng thẻ tín dụng cho Ngân hàng. Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ngày 07/9/2023 ông B1 ký hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với Ngân hàng quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông B1 không trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do ông B1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu B1 trả nợ tiền gốc, tiền lãi của hợp đồng tín dụng, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Duy B1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về áp dụng pháp luật giải quyết trong vụ án: Quan hệ vay tài sản giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 (S2) với bị đơn ông Nguyễn Duy B1 phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Do bị đơn vi phạm thỏa thuận nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B1 trả nợ số tiền gốc, tiền lãi của Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, pháp luật được áp dụng để giải quyết trong vụ án là Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Về nội dung vụ án: Ngày 09/7/2023 và ngày 13/9/2023 ông Nguyễn Duy B1 được Ngân hàng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 436438-5549 và app vay tiêu dùng số 211251-6756. Theo hợp đồng thẻ tín dụng và app tiêu dùng thì Ngân hàng cấp hạn mức cho ông B1 sử dụng số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), quá trình sử dụng thẻ tín dụng và app tiêu dùng ông B1 đã thực hiện giao dịch nhiều lần với tổng số tiền 105.028.000 đồng. Ông B1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 58.393.000 đồng. Ngày 25/3/2024 ông Nguyễn Duy B1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Do ông B1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của hợp đồng thẻ tín dụng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B1 phải trả tiền gốc và tiền lãi của hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 91 và Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng kể từ sau ngày Tòa án xét xử. Hợp đồng thẻ tín dụng hiện nay đang áp dụng lãi suất 44,7%/năm và app tiêu dùng là 46,5%/năm. Hội đồng xét xử thấy rằng thỏa thuận là do các bên tuy nhiên phải phù hợp theo quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/ năm”.
Do vậy theo hướng dẫn tại khoản 1, 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/6/2025 cho đến khi thi hành xong ông Nguyễn Duy B1 còn phải chịu khoản lãi theo mức lãi suất đối với hợp đồng thẻ tín dụng số 436438-5549 ngày 07/9/2023 và app vay tiêu dùng số 211251-6756 ngày 13/9/2023 của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Do vậy đề nghị của nguyên đơn về việc tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật là 78.056.256 đồng x 5%) = 3.903.000 đồng (làm tròn), hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Các Điều 280, 357, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 (S2) đối với ông Nguyễn Duy B1.
Buộc ông Nguyễn Duy B1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S1 (S2) tính đến hết ngày 20/6/2025 theo hợp đồng thẻ tín dụng số 436438-5549 ngày 07/9/2023 và app vay tiêu dùng số 211251-6756 ngày 13/9/2023 số tiền là: 78.056.256 đồng (trong đó nợ gốc là 48.262.471 đồng; nợ lãi quá hạn là 29.793.785 đồng); Kể từ tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/6/2025 cho đến khi thi hành xong ông Nguyễn Duy B1 còn phải chịu khoản lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất 20%/năm cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
-
Về án phí: Ông Nguyễn Duy B1 phải chịu 3.903.000 đồng (làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP S1 (S2) không phải chịu án phí. Hoàn trả Ngân hàng TMCP S1 (S2) 1.560.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0000628 ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.
-
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh |
Bản án số 14/2025/DS- ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sài Gòn Thương tín Bình
