Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/DS-ST

Ngày: 16-6-2025.

“V/v tranh chấp

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tưởng Ngọc Anh

Ông Nguyễn Văn Tạo

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-TCDS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về “Tranhquyền sử dụng đất”, theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-DS, ngày 22/4/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T; nơi cư trú: C, thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: Ông Phạm Hồng P; địa chỉ: C, thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N; nơi cư trú: C, thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15/10/2024, bản tự khai, biên bản phiên họp và hòa giải, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 1999 vợ chồng ông được UBND xã Q, huyện Q giao đất để chăm sóc, quản lý và thu hoạch mũ thông, số cây thông đã được trồng theo dự án theo dự án 327 tại thửa đất hiện đang tranh chấp. Tại thời điểm đó UBND xã Q chỉ ranh giới và phân lô cho từng hộ dân chứ diện tích cụ thể bao nhiêu ông cũng không biết. Sau đó đến tuổi thu hoạch mủ thông thì gia đình ông cũng đã thu hoạch. Năm 2013 do bão to nên số cây thông đã bị gãy một số cây và gia đình ông trồng bạch đàn vào chỗ những cây thông đã bị gãy, đổ xen lẫn trong khu vực trồng thông trước đó. Ngày 25/12/2008 vợ chồng ông được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 505770 vào sổ cấp GCN: CH00351, đối với thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, diện tích 18.618 m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Năm 2017 do bão gãy hết số thông còn lại nên gia đình ông đã trồng cây tràm và sau đó chuyển qua trồng cây keo cho đến nay.

Năm 2023 gia đình ông tiến hành đo đạc lại thửa đất trên thì phát hiện vợ chồng anh H và chị N đã lấn chiếm đất và trồng cây tràm keo trên phần đất của vợ chồng ông, diện tích lấn chiếm 1.400 m². Trên phần đất đó, vợ chồng anh H, chị N đã tự ý múc vành đai mương và trồng khoảng 1.300 cây keo tràm khoảng hơn 04 năm tuổi. Vợ chồng ông đã nhiều lần trao đổi với vợ chồng anh H, chị N và đã được UBND xã Q hòa giải nhưng anh H, chị N vẫn không trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình ông.

Nay vợ chồng ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh H, chị N trả lại cho vợ chồng ông diện tích đất 1119,77 m² (theo kết quả đo đạc của Hội đồng thẩm định) mà anh H, chị N đã lấn chiếm tại cạnh phía Tây Nam của thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, tại thôn H, xã Q, huyện Q và đối với số cây keo được trồng trên diện tích lấn chiếm đã đến tuổi khai thác, gia đình ông yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N khai thác toàn bộ cây keo, lấp vành đai mương trả lại mặt bằng đối với phần đất đã lấn chiếm trên diện tích đất tranh chấp nói trên cho gia đình ông.

- Tại bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N trình bày:

Năm 1999, Nhà nước có chủ trương trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, các đoàn thể trong thôn H đã nhận trồng một số diện tích đất thông ở phía trên. Năm 2002, vợ chồng anh thấy đất trống đồi trọc bỏ hoang ở phía dưới đất thông nên đã khai hoang phục hóa và trồng cây bạch đàn. Từ đó cho đến năm 2019, gia đình anh đã thu hoạch được 04 lứa cây bạch đàn, đến đầu năm 2020, vợ chồng anh chuyển từ trồng cây bạch đàn sang cây keo cho đến nay. Vợ chồng anh đã sử dụng phần đất đó liên tục, ổn định, lâu dài gần 23 năm nay, từ trước đến nay không có ai tranh chấp, mọi người trong thôn đều biết. Ngày 28/9/2017, gia đình anh được Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 953082, số vào sổ cấp GCN: CH03215, đối với thửa đất số 789, tờ bản đồ số 59, diện tích 4.840,1 m², tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện tại vợ chồng anh đang trồng khoảng 1.500 cây tràm, trong đó có khoảng 300 cây gần năm năm tuổi, cao khoảng 08 m – 10 m nằm trên phần đất đang tranh chấp với vợ chồng ông P, bà T. Vợ chồng anh không biết vì sao phần đất tranh chấp trên lại đứng tên vợ chồng ông P, bà T nên vợ chồng anh yêu cầu bóc tách phần diện tích đất đó ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, bà T.

Do vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông P, bà T khởi kiện, vợ chồng ông không đồng ý.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2024 xác định: Thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 505770 vào sổ cấp GCN: CH00351 ngày 25/12/2008 với diện tích 18.618 m², có tứ cận như sau: Phía Đông giáp thửa đất số 362, phía bắc giáp thửa đất số 408, phía Nam giáp thửa đất số 349, phía tây giáp thửa đất số 789.

Phần đất đang có tranh chấp có các tài sản, cây cối trên đất như sau: Diện tích là 1.119,77m² toàn bộ đã được trồng cây keo tập trung có đường kính trung bình 08cm.

Kết quả định giá tài sản ngày 03/12/2024 xác định giá trị tổng phần đất đang tranh chấp là 1.119,77m² x 4.000 đồng/m² = 4.479.080 đồng.

Giá trị cây cối trên phần đất đang tranh chấp: Cây keo tập trung = 1.119,77m² x 1.250 cây x 39.600 đồng = 49.500.000 đồng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân theo pháp luật tố tụng. Bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho ông Phạm Hồng P đại diện theo ủy quyền theo quy định của pháp luật. Anh H, chị N không tuân thủ quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 163, 164, 166, 274, 275, 276, 579, 580 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N trả lại toàn bộ diện tích đất đã chiếm là 1.119,77 m² tại thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, diện tích 18.618 m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình cho ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T (theo sơ đồ là phần gạch chéo); Về tài sản trên đất: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải tự thu hoạch số cây trồng, phải lấp vành đai mương; về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 5.000.000 đồng để trả cho ông P và bà T; về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng; Trả lại cho ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nên căn cứ theo khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫnmặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị Tình yêu C anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N khai thác toàn bộ cây keo, lấp vành đai mương và trả lại toàn bộ số diện tích đất là 1.119,77 m² đất rừng trên diện tích đất tranh chấp nói trên cho gia đình ông P, bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Năm 1999 vợ chồng ông được UBND xã Q, huyện Q giao đất để chăm sóc, quản lý và thu hoạch mủ thông, số cây thông đã được trồng theo dự án theo dự án 327 tại thửa đất hiện đang tranh chấp. Tại thời điểm đó UBND xã Q chỉ ranh giới cho từng hộ dân chứ diện tích cụ thể bao nhiêu ông cũng không biết. Sau đó đến tuổi thu hoạch mủ thông thì gia đình ông cũng đã thu hoạch. Năm 2013 do bão to nên số cây thông đã bị gãy một số cây và gia đình ông trồng bạch đàn vào chỗ những cây thông đã bị gãy, đổ xen lẫn trong khu vực trồng thông trước đó. Ngày 25/12/2008 ông P và bà T được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 505770 vào sổ cấp GCN: CH00351 đối với thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, diện tích 18.618 m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi được cấp đất cho đến nay, gia đình ông P, bà T đã quản lý, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N trình bày diện tích rừng do anh chị khai hoang từ năm 2002 và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Ngày 28/9/2017, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N được Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 953082, số vào sổ cấp GCN: CH03215, đối với thửa đất số 789, tờ bản đồ số 59, diện tích 4.840,1 m², tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, trong đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 06/7/2017 của gia đình anh Nguyễn Văn H do Văn phòng Đ chi nhánh huyện Q cung cấp thì gia đình anh Nguyễn Văn H có đơn xin đăng ký thửa đất số 789, tờ bản đồ số 59 với diện tích là 4.840,1m² và nguồn gốc sử dụng đất khai hoang từ năm 2008. Như vậy, tại thời điểm anh H, chị N khai hoang diện tích đất đó đã được đo vẽ và cấp cho gia đình ông P, bà T. Do đó, có sự mâu thuẫn trong lời khai của bị đơn về thời gian khai hoang diện tích đất trên. Mặt khác, sau khi gia đình anh H, chị N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh H, chị N không có ý kiến gì về diện tích cũng như ranh giới sử dụng của mình. Vì vậy, yêu cầu của anh H, chị N về việc bóc tách diện tích mà anh chị đang trồng cây trên phần đất của ông P, bà T và không trả lại diện tích đất đang tranh chấp cho ông P, bà T là không có cơ sở để chấp nhận.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2024 thì anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N đã trồng cây trên thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, đã cấp cho ông P, bà T với diện tích 1.119,77 m² với số cây trồng trên đất là 1.250 cây. Theo Điều 170 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm (theo sơ đồ đo vẽ) là có căn cứ.

Từ những nhận định trên, thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải phải tự thu hoạch số cây trồng, phải lấp vành đai mương trả lại mặt bằng đối với phần đất đã lấn chiếm và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T.

[2.2]. Về cây trồng trên đất:

Diện tích cây keo anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N đã trồng đến nay đã hơn 4 năm, đã có thể thu hoạch, tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị Tình yêu C bị đơn phải tự thu hoạch toàn bộ số cây trồng trên đất. Hội đồng xét xử xét thấy diện tích cây keo được trồng trên diện tích đất đang tranh chấp đã đủ điều kiện để khai thác và yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp, nên cần buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải tự thu hoạch số cây trồng để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với tổng chi phí là 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 5.000.000 đồng. Nay yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N sẽ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 164; khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, 164, 165, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai 2013; Điều 163, 164, 166, 274, 275, 276, 579, 580 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

  1. Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N trả lại toàn bộ diện tích đất đã chiếm là 1.119,77 m² thuộc thửa đất số 425, tờ bản đồ số 35, tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình cho ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T (theo sơ đồ là phần gạch chéo, sơ đồ là phần không tách rời bản án).
  2. Về tài sản trên đất: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải tự thu hoạch số cây trồng, phải lấp vành đai mương trả lại mặt bằng đối với phần đất đã lấn chiếm để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải chịu chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản với số tiền 5.000.000 đồng để trả lại cho ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.

Trả lại cho ông Phạm Hồng P và bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0002024 ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch.

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - Chi cục THADS h. Q;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 14/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger