|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/DS-PT
Ngày 28/2/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 2 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 279/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Liên H, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A đường Đ, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1975, địa chỉ: Số A đường T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền ngày 02/4/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Cửu Thị T, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Tấn D, sinh năm 1965, địa chỉ: Số A đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Cửu Thị T: Ông Nguyễn Tấn D, sinh năm 1965, địa chỉ: Số A đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền ngày 22/8/2024). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn M, sinh năm 1968, địa chỉ: Số A đường Đ, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M là Ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1975, địa chỉ: Số A đường T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền ngày 26/6/2024). Có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn bà Hồ Thị Liên H trình bày:
Do mối quan hệ quen biết từ trước, bà Nguyễn Cửu Thị T và ông Nguyễn Tấn D đã nhiều lần đến nhà bà H để vay tiền nhằm mục đích kinh doanh. Mỗi lần vay, bà T viết “Giấy mượn tiền” và ông D ký xác nhận. Cụ thể các khoản vay như sau:
- Ngày 25/02/2020: 80.000.000 đồng
- Ngày 04/3/2020: 300.000.000 đồng.
- Ngày 09/4/2020: 260.000.000 đồng.
- Ngày 06/5/2020: 300.000.000 đồng.
- Ngày 25/9/2020: 150.000.000 đồng.
- Ngày 26/10/2020: 200.000.000 đồng.
- Ngày 09/11/2020: 300.000.000 đồng.
- Ngày 05/01/2021: 200.000.000 đồng.
- Ngày 16/4/2021: 200.000.000 đồng.
- Ngày 10/7/2021: 200.000.000 đồng.
- Ngày 29/7/2021: 200.000.000 đồng.
- Ngày 20/9/2021: 300.000.000 đồng.
- Ngày 21/10/2021: 300.000.000 đồng.
- Ngày 20/6/2022: 250.000.000 đồng.
- Ngày 05/7/2022: 200.000.000 đồng (chỉ nhắn tin và chuyển tiền, không viết giấy vay tiền)
Tổng cộng, số tiền vay là 3.440.000.000 đồng. Ngày 18/01/2023, bà T và ông D đã trả 100.000.000 đồng, số tiền gốc còn lại là 3.340.000.000 đồng.
Về lãi suất, các bên đã thỏa thuận mức lãi suất 3%/tháng và thực hiện từ ngày vay cho đến khi trả hết nợ gốc. Tuy nhiên, từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023, bà T và ông D chỉ trả số tiền lãi là 454.800.000 đồng, nhưng không đúng theo thỏa thuận và cho rằng đó là trả nợ gốc, điều này không đúng với sự thống nhất của các bên.
Bà T và ông D cũng cho rằng khoản nợ này là nợ riêng của bà T, điều này không có căn cứ vì quá trình vay tiền được thực hiện cho mục đích kinh doanh chung của vợ chồng, và ông D cũng đã ký xác nhận vào giấy mượn tiền.
Theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất cho phép áp dụng đối với hợp đồng vay là 20%/ năm. Do đó, bà H xác định:
- Tổng số tiền lãi đã trả với mức lãi suất 3%/tháng từ ngày vay đến ngày xét xử là 2.644.520.000 đồng.
- Tổng số tiền lãi đã trả với mức lãi suất 20%/năm (1,66%/tháng) từ ngày vay đến ngày xét xử là 2.376.348.061 đồng.
- Lãi vượt được xác định: 2.644.520.000 đồng - 2.376.384.061 đồng = 268.136.000 đồng.
- Tiền gốc sau khi trừ lãi vượt tại thời điểm xét xử là: 3.340.000.000 đồng - 268.136.000 đồng = 3.071.864.000 đồng.
Vì vậy, tại phiên tòa bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Nguyễn Cửu Thị T và ông Nguyễn Tấn D trả toàn bộ số tiền gốc 3.071.864.000 đồng.
Buộc bà T và ông D tiếp tục trả lãi suất 20%/năm trên số tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết số nợ.
1.2. Bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T trình bày:
Trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2023, bà T đã vay tiền của vợ chồng bà H và ông M tổng cộng 29 lần. Mỗi lần vay tiền, bà T và bà H trao đổi về số tiền cần vay, sau đó bà H hoặc ông M chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng và bà T viết “Giấy mượn tiền” giao lại cho bà H và ông Mạnh G.
Tại thời điểm vay tiền của bà H, ông D và bà T đã vay và thế chấp tài sản chung của vợ chồng, gồm nhà và đất, tại Ngân hàng. Số tiền vay của bà H được sử dụng để trả lãi Ngân hàng, trả lãi vay của bà H, và đầu tư kinh doanh cho bà T. Mặc dù ông D có biết về việc kinh doanh của bà T, nhưng ông không can thiệp vào việc này. Các khoản nợ phát sinh đến nay là do bà T kinh doanh thua lỗ. Đối với ông D, do có công việc và thu nhập từ lương ổn định, ông có đủ khả năng lo cho bản thân và các con.
Việc ông D viết nội dung “Xác nhận vợ tôi có vay là đúng” và ký vào “Giấy mượn tiền” chỉ với tư cách là người làm chứng. Ông D cho rằng ông không liên quan đến thỏa thuận vay tiền này và do đó trách nhiệm trả nợ các khoản vay thuộc về bà T.
Về thời hạn trả tiền và lãi suất vay, các bên không ghi rõ trong giấy mượn tiền, nhưng khi vay, bà H đã ấn định mức lãi suất là 3%/tháng cho tất cả các khoản vay, tính đến ngày trả tiền, nên trong giấy mượn tiền không ghi thời hạn trả. Khi trả xong tiền gốc của khoản vay nào, bà T nhận lại giấy mượn tiền của khoản vay đó. Hiện tại, bà T đã nhận lại 14 tờ “Giấy mượn tiền” với tổng số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng và đã đóng lãi cho các khoản vay này theo thỏa thuận.
Đối với 15 khoản vay theo yêu cầu khởi kiện, bà T thừa nhận đã vay với số tiền gốc tổng cộng là 3.340.000.000 đồng. Các khoản vay này được ghi lại trong 14 “Giấy mượn tiền” giao cho bà H, riêng khoản vay ngày 05/7/2022 số tiền 200.000.000 đồng chỉ được giao dịch qua tin nhắn và chuyển tiền, không có
“Giấy mượn tiền” như bà H đã trình bày. Về lãi suất cho các khoản vay này, bà T xác nhận đã thực hiện theo phương thức như đã nêu trên.
Bà T đã trả tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng từ ngày vay cho đến ngày 30/11/2022, với tổng số tiền lãi đã trả là 2.189.720.000 đồng. Tuy nhiên, từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023, do gặp khó khăn về kinh tế nên bà T không tiếp tục trả lãi. Tại thời điểm này, bà H đồng ý chỉ lấy tiền gốc, nên số tiền 454.800.000 đồng mà bà T đã trả cho bà H được coi là trả tiền gốc.
Từ tháng 9/2023, bà T không trả thêm bất kỳ khoản tiền nào nữa.
Ông D và bà T thống nhất với yêu cầu khởi kiện về việc đã trả tiền lãi tới ngày 30/11/2022 mức lãi suất 3%/tháng số tiền là 2.189.720.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,66%/tháng tính đến ngày 30/11/2022 là 1.212.060.000 đồng. Hiện tại, ông D và bà T cho rằng mức lãi suất thỏa thuận 3%/tháng là vượt mức lãi suất quy định, do đó số tiền lãi vượt mức là 977.720.000 đồng phải được trừ vào nợ gốc. Cụ thể, số tiền gốc còn nợ tính đến ngày 30/11/2024 là 2.442.280.000 đồng.
Từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023, bà T đã trả tiền gốc 454.800.000 đồng, nên số tiền gốc còn lại là 1.987.480.000 đồng.
Do các bên có tranh chấp về lãi suất, ông D và bà T đề nghị kể từ tháng 12/2023 chỉ áp dụng mức lãi suất là 10%/năm. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, ông D và bà T đề nghị áp dụng mức lãi suất của Ngân hàng là khoảng 7,5%/năm.
Hiện tại, do điều kiện kinh tế khó khăn, ông D đề nghị cấn trừ tài sản là nhà, đất để trả nợ hoặc được phép trả dần số tiền nợ trong thời hạn 2 năm.
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M trình bày:
Thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1, 2 và 4 Điều 91, Khoản 2 Điều 92, Khoản 3 Điều 144, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự;
- Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Liên H.
Buộc ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T phải trả cho bà Hồ Thị Liên H số tiền 2.749.263.907 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.383.809.315 đồng và nợ lãi là 365.454.592 đồng.
Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Liên H buộc ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T phải trả số tiền 322.600.093 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T phải chịu 86.985.278 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Hồ Thị Liên H phải chịu 16.130.005 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 53.575.189 đồng theo biên lai thu tiền số 0001413 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà H được nhận lại số tiền 37.445.184 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
- Ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T có đơn kháng cáo về việc đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng:
Yêu cầu trừ số tiền 454.000.000 đồng đã trả cho bà H vào tiền nợ gốc.
Tính lãi suất 10%/năm từ tháng 12/2022 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Không xác định ông D với tư cách tham gia tố tụng là bị đơn trong vụ án này.
- Nguyên đơn bà Hồ Thị Liên H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M không kháng cáo.
- Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
- Bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và thay đổi một phần nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng:
Tính lãi suất 10%/năm từ tháng 12/2022 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Không xác định ông D với tư cách tham gia tố tụng là bị đơn trong vụ án này.
Tại phiên tòa bị đơn xác định số tiền 454.800.000 đồng là tiền lãi đã trả cho nguyên đơn từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023. Và thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị xem xét sau khi trừ tiền lãi theo quy định pháp luật, số lãi vượt quá được trừ vào gốc cho bị đơn.
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần tiền lãi và gốc phải trả đối với số tiền bị đơn thừa nhận số tiền 454.800.000 đồng là tiền trả lãi mà nguyên đơn đã trả từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông D và bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Đối với việc xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Nguyễn Tấn D
Tại đơn khởi kiện ngày 22/3/2024, người khởi kiện bà Hồ Thị Liên H yêu cầu người bị kiện ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T trả tiền.
Ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T là vợ chồng. Tại các giấy vay tiền vào các ngày 25/02/2020, 04/3/2020, 09/4/2020, 06/5/2020, 25/9/2020, 26/10/2020, 09/11/2020, 05/01/2021, 16/4/2021, 10/7/2021, 29/7/2021, 20/9/2021, 21/10/2021 và 20/6/2022 do nguyên đơn cung cấp đều có nội dung
xác nhận “Vợ tôi có vay là đúng” và chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Tấn D. Như vậy, ông D có biết và thừa nhận các khoản vay của vợ là bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông D là bị đơn có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T trả nợ cho bà H đối với các khoản nợ trên là có căn cứ.
Đối với khoản vay 200.000.000 đồng vào ngày 05/7/2022 là giao dịch thông qua việc nhắn tin giữa bà H và bà T thấy rằng ông D không chứng minh được việc kinh doanh của bà T là nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân của bà. Vì vậy, có căn cứ xác định bà T sử dụng tiền vay nhằm phục vụ cho mục đích chung của gia đình. Do đó, tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản và nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản và nghĩa vụ chung trừ khi có bằng chứng ngược lại. Vì các khoản vay này diễn ra trong thời kỳ hôn nhân, và mục đích vay là để trả nợ chung và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của gia đình. Vì vậy, ông D và bà T đều phải có trách nhiệm trả nợ chung này.
[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi suất 10%/năm từ tháng 12/2022 cho đến khi giải quyết xong vụ án:
Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định về lãi suất như sau:
“2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Các đương sự đều thừa nhận lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng (BL55) và không có tranh chấp về mức lãi suất này nên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 468. Vì vậy, mức lãi suất Tòa án cấp sơ thẩm xác định là 20%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3] Đối với yêu cầu trừ số tiền 454.800.000 đồng đã trả cho bà H:
Tại phiên tòa bị đơn xác định số tiền 454.800.000 đồng là tiền lãi đã trả cho nguyên đơn. Và thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị xem xét sau khi trừ tiền lãi theo quy định pháp luật, số lãi vượt quá được trừ vào tiền gốc.
Như vậy, việc bị đơn cho rằng số tiền 454.800.000 đồng đã trả được trừ vào tiền lãi từ ngày 19/1/2023 đến 18/8/2023 là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ kiện.
[3] Về tiền lãi
[3.1] Đối với khoản nợ chung của ông D, bà T:
Tiền lãi phát sinh từ ngày 01/12/2022 đến ngày 18/01/2023, là 49 ngày, tính trên nợ gốc là 2.483.809.315 đồng, theo mức lãi suất 20%/năm là 66.688.579 đồng.
Ngày 18/01/2023 bị đơn trả cho nguyên đơn 100.000.000đ tiền gốc, các đương sự đều thừa nhận, thống nhất về gốc còn lại là: 2.383.809.315₫
Tiền lãi phát sinh từ ngày 19/01/2023 đến ngày 18/8/2023 là 212 ngày tính trên nợ gốc là 2.383.809.315 đồng, theo mức lãi suất 20%/năm là 276.913.739₫.
Bị đơn đã trả lãi là 454.800.000 đồng, do đó số dư 177.886.261đ, số tiền này được trừ vào tiền gốc (2.383.809.315 – 177.886.261 = 2.205.923.054đ).
Tiền lãi phát sinh từ ngày 19/08/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024 là 371 ngày tính trên nợ gốc là 2.205.923.054 đồng, theo mức lãi suất 20%/năm là 448.436.960₫
Tổng tiền lãi là 792.039.278 đồng.
Tiền lãi đã trả là 276.913.739 đồng. Như vậy tiền lãi còn phải trả là 515.125.539 đồng.
Cấp sơ thẩm tuyên bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 2.383.809.315 và tiền lãi 365.454.592đ. Tổng cộng là 2.749.263.907đ là chưa chính xác về mặt tính toán. Do đó, cần sửa lại số tiền lãi và gốc phải trả để đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1, 2 và 4 Điều 91, Khoản 2 Điều 92, Khoản 3 Điều 144, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự;
- Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Hồ Thị Liên H với bị đơn ông Nguyễn Tấn D, bà Nguyễn Cửu Thị T.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Liên H.
Buộc ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T phải liên đới trả cho bà Hồ Thị Liên H số tiền 2.721.048.593 đồng, trong đó nợ gốc là 2.205.923.054 đồng và nợ lãi là 515.125.539 đồng.
Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Liên H buộc ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T phải trả số tiền 350.815.407 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.2.1. Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T phải chịu 86.420.972 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Hồ Thị Liên H phải chịu 17.540.770 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 53.575.189 đồng theo biên lai thu tiền số 0001413 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà H được nhận lại số tiền 36.034.419 đồng.
2.2.2. Về án phí phúc thẩm:
Trả lại cho ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000420 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 14/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn D và bà Nguyễn Cửu Thị T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
