TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 14/2025/DS-PT Ngày 17 - 3 - 2025 V/v tranh chấp đòi tài sản | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nga
Ông Hoàng Hữu Tăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Mạnh Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp về đòi tài sản”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1959; Địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N: Bà Phạm Thị T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; “có mặt”
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1949; Địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; “có mặt”
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1955; “có mặt”
Đều địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
- - Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1979; “vắng mặt”
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1977; “vắng mặt”
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; “vắng mặt”
Đều địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Xuân K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày: Năm 1996 ông bán cho ông Nguyễn Xuân K 20 tấn than để ông K đốt lò gạch, giá hai bên thỏa thuận là 230.000 đồng/tấn, thành tiền là 4.600.000 đồng. Nguồn gốc số than trên là do ông mua của những người buôn than từ Quảng Ninh về. Ông và ông K không thỏa thuận thời hạn trả tiền cụ thể mà thỏa thuận trả theo thời vụ. Ông bán than cho ông K, sau khi ông K đốt lò xong có gạch để bán thì trả tiền than cho ông. Việc hai bên mua bán than đã chốt nợ trên giấy tờ. Sau 04 (bốn) lần thanh toán, ông K trả ông được 1.000.000 đồng, ông không nhớ cụ thể 04 lần thanh toán đó vào thời gian nào, ông K còn nợ ông số tiền là 3.600.000 đồng. Khoảng năm 1998, ông K đi vào miền N và không thanh toán tiền cho ông nữa. Ông đã gọi điện nhiều lần đòi tiền nhưng ông K không trả. Cuối năm 2023 đầu năm 2024, ông K về quê, ông đến nhà ông K đòi tiền, ông K vẫn thừa nhận nợ ông số tiền trên. Cách đây vài tháng, ông đến đòi thì ông K không thừa nhận nợ ông số tiền 3.600.000 đồng nữa. Do đó, ông đã khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông K phải trả lại cho ông 3.600.000 đồng còn nợ và số tiền lãi quá hạn từ tháng 09/1996 tới ngày 22/05/2024 là 19.980.000 đồng. Ông không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông K vì thời điểm đó, ông K mua than của ông nhưng mới trả được 1.000.000 đồng, còn 3.600.000 đồng chưa trả. Sau đó ông K lại lấy tiếp của nhà ông 1 tấn than nữa và đổi cho ông 12.000 viên gạch, ông K có ghi vào sổ của ông. Ông không đòi ông K số tiền 1.500.000 đồng nên không có việc ông K gửi tiền con gái và con rể 1.500.000 đồng để trả cho ông. Đối với 3000 viên gạch phồng ông không lấy của nhà ông K.
Bị đơn là ông Nguyễn Xuân K trình bày: Ông thừa nhận năm 1996 có mua của ông N 20 tấn than, tổng số tiền là 4.600.000 đồng. Việc mua bán than hai bên chỉ nói miệng với nhau, sau đó hai bên mới chốt nợ trên giấy tờ và không thỏa thuận gì về lãi suất. Ông xác định là trả tiền ngay, ông bán được gạch là trả tiền vì lúc đó ông có 03 lò gạch, lúc nào cũng sẵn gạch. Tuy nhiên, đang vào vụ cấy nên chưa có người ra lò để bán gạch nên ông mới chỉ trả được cho ông N 04 lần 1.000.000 đồng, ông N đều ghi vào sổ, còn lại 3.600.000 đồng ông hẹn mấy ngày nữa sẽ trả tiền cho ông N nhưng ông N không đồng ý. Do đó, ông và ông N đã thỏa thuận để ông N thuê xe công nông, thuê người đến lò của ông bốc gạch. Khi ông N đến bốc gạch thì ông không có ở nhà vì phải đi đòi nợ. Ông N đã lấy của ông 12.000 viên gạch loại 1, giá 300.000 đồng/1000 viên (số gạch này ông đã ghi trên giấy chốt nợ của ông N), 3000 viên gạch phồng, giá 150.000 đồng /1000 viên, tổng trị giá là: 4.050.000 đồng. Ông xác định chữ ký, chữ viết “12000 viên gạch” là của ông. Ông không ghi 3000 viên gạch vào sổ vì ông nghĩ anh em không kiện cáo gì. Một thời gian sau, ông N có nói là ông còn nợ ông N 1.500.000 đồng ông không đồng ý với việc ông N đòi ông số tiền 1.500.000 đồng nhưng khoảng năm 2014, ông vẫn gửi tiền qua ngân hàng về cho con gái là chị Q và con rể là anh D trả cho ông N hộ ông, giấy tờ gửi tiền ông không còn lưu giữ. Như vậy, tổng số tiền gạch, tiền mặt ông đã trả cho ông N là 5.550.000 đồng. Ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N vì ông đã trả hết nợ cho ông N rồi.
Ngày 15/10/2024, ông K có yêu cầu phản tố, yêu cầu ông N phải trả lại ông số tiền 1.500.000₫ và lãi tính từ thời điểm tháng 8/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm và 3000 viên gạch phồng thời điểm năm 1997 trị giá là 450.000đ + lãi tính từ thời điểm tháng 5/1997 đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn D trình bày: Anh là con rể của ông K. Anh khẳng định có việc ông K nhờ vợ chồng anh trả cho ông N số tiền 1.500.000 đồng. Vợ chồng anh đã trả cho ông N ở tại nhà ông N vào khoảng 07 giờ tối. Tuy nhiên, chỉ có vợ chồng anh đưa tiền cho ông N, ngoài ra không còn ai chứng kiến và biết việc này. Việc giao nhận tiền không có giấy tờ gì.
Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 117, 118, 119, Điều 357, khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N: Buộc ông Nguyễn Xuân K phải trả cho ông N số tiền gốc là 3.600.000 đồng và lãi tính từ ngày 01/9/1996 đến ngày xét xử sơ thẩm là 10.200.000 đồng, tổng là 13.800.000 đồng.
Ông K có trách nhiệm thanh toán số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Xuân K về việc yêu cầu ông N phải trả lại số tiền 5.550.000 đồng
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025 bị đơn ông Nguyễn Xuân K kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên buộc ông Nguyễn Văn N phải trả 12.000 viên gạch loại 1 và số tiền 1.500.000 đồng.
Tại phiên tòa: Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn xác định do ông K không thanh toán hết tiền còn nợ nên khi ông K mua 10 tấn than đã yêu cầu ông K thanh toán bằng 12.000 viên gạch tương ứng với giá gạch tại thời điểm ông lấy của những người khác nên trong sổ theo dõi ông ghi vào phần còn chịu lại, khi nhận đủ gạch ông đã đánh dấu vào bên cạnh, ông không nhận số tiền 1.500.000 đồng của ông K từ anh D nên không chấp nhận yêu cầu của ông K.
Người kháng cáo xác định ngày 31 tháng 8 năm 1996 ông mua 20 tấn than nhưng ông N lại điền số than ông mua 10 tấn ngày 13 tháng 6 năm 1996 tương ứng với số gạch đã nhận 12.000 viên là không đúng. Số tiền 1.500.000 đồng ông gửi vợ chồng con gái trả có anh D, con rể làm chứng nên đề nghị Tòa án chấp nhận kháng cáo.
Bà T1 xác định không liên quan đến việc mua bán than của ông N.
Bà C xác định không liên quan đến việc mua bán của ông K và số tiền 1.500.000 đồng ông K trả ông N
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về đường lối giải quyết vụ án: Ông K không xuất trình được chứng cứ chứng minh bán cho ông N 12.000 viên gạch và trả số tiền 1.500.000 đồng trong khi theo sổ theo dõi của ông N thì số gạch tương ứng với giá trị 10 tấn than nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Xét kháng cáo của ông Nguyễn Xuân K thấy, ông K không xuất trình được chứng cứ chứng minh bán cho ông N 12000 viên gạch trong khi theo chứng cứ do ông N xuất trình tại các cột ghi ngày, giá, thành tiền, đã trả, còn chịu lại thể hiện ngày 31 tháng 8 (năm 1996) số lượng 20T giá 23 thành tiền 4.600.000đ, cột đã trả thể hiện trả 4 lần số tiền 1.000.000 đồng, cột còn chịu lại 3.600.000₫ và giao dịch phía dưới thể hiện ngày 13 tháng 6 (năm 1997) số lượng 10T, cột còn chịu lại có chữ “12000 viên gạch” do ông K viết phía dưới “chữ ba triệu sáu trăm ngàn đồng chẵn” của giao dịch ngày 31 tháng 8 phù hợp với giá gạch ông N mua của những người khác ghi trong sổ có căn cứ xác định ngày 13 tháng 6 (năm 1997) ông N bán cho ông K 10 tấn than và được ông K thanh toán tiền bằng 12.000 viên gạch nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi 12.000 viên gạch của ông K là có căn cứ.
- Ông Nguyễn Xuân K xác định năm 2014 nhờ vợ chồng con gái là chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Văn D trả tiền cho ông N số tiền 1.500.000 đồng mâu thuẫn với trình bày của chính ông đã trả hết tiền nợ bằng 12.000 viên gạch. Đồng thời bản kê do ông xuất trình là do ông tự viết không có xác nhận của ông N và anh D thừa nhận việc giao tiền cho ông N không có văn bản, không có người làm chứng trong khi ông N không thừa nhận đã nhận số tiền 1.500.000 đồng nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi số tiền 1.500.000 đồng của ông K là phù hợp Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên là phù hợp nên được chấp nhận.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân K là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của ông Nguyễn Xuân K. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST, ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân K đòi ông Nguyễn Văn N trả 12.000 viên gạch loại 1 và số tiền 1.500.000 đồng
- Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với ông Nguyễn Xuân K
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Quang Tú |
Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 14/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
