Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/DS-PT
Ngày: 06-02-2025
“V/v: Tranh chấp bồi thường
thiệt hại về tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn.

Các thẩm phán: Ông Trần Đình Chi và Bà Lê Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2024/TLPT - DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:117/2024/QĐXXPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2024 và Thông báo bổ sung Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 922/2024/TB-TA ngày 17 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định mở lại phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ: Khu D, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Ông Cao Văn L, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị L1, sinh năm 1976. Đều có địa chỉ: Khu D, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Bà L1 và ông L đều vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1959 (chồng của bà N).

Ông H ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962. Đều có địa chỉ: Khu D, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Bà N có mặt, ông H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày:

Gia đình bà nhận thầu khoán của UBND xã P và thực hiện cấy lúa trên diện tích 720 m² (02 sào ruộng) tại sứ Đ thuộc khu D, xã P, quá trình canh tác không xảy ra tranh chấp với ai. Vụ lúa chiêm và vụ L2 mùa năm 2022, khi gia đình bà canh tác trồng lúa thì đã bị thiệt hại. Nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là do gia đình ông L và bà L1 đã đổ đất làm nhà, có cống thoát nước nhưng không đảm bảo nên đã gây thiệt hại. Cụ thể:

Vào tháng 5/2022 (vụ lúa chiêm) do mưa lũ và cống nhỏ nước thoát chậm nên đã làm ngập ruộng lúa của gia đình bà và các hộ dân xung quanh. Sau khi diện tích lúa bị ngập thì không thu hoạch được nên gia đình ông L, bà L1 đã xin hòa giải và bồi thường thiệt hại cho gia đình bà và các hộ dân tại sứ đồng Soẹt. Gia đình ông L, bà L1 cũng đã hứa sẽ khắc phục và đảm bảo cống thoát nước kịp thời khi mưa lớn nếu gây ngập úng sẽ phải bồi thường.

Ngày 26/8/2022 (vụ lúa mùa), diện tích lúa của gia đình nhà bà đang phơi mầu thì bị ngập nên lúa đã bị chỏng không đạt sản lượng. Lý do ngập kéo dài là do cống thoát nước mà ông bà Lưu L3 hạ xuống là nhỏ, bị sập (từ tháng 5/2022) chưa khắc phục nên không thoát kịp nước dẫn đến ngập lúa từ 03 đến 04 ngày. Từ sau khi hết ngập thì bà vẫn tiến hành chăm sóc, phun thuốc, đánh chuột và đến thời gian thu hoạch (một tháng sau) thì bà có kiểm tra và thấy lúa của gia đình bà bị chỏng nên bà không thu hoạch

Sau khi lúa bị ngập, bà có báo ông bà Lưu L3 để khắc phục nhưng ông L nói bà tự khắc phục, bà tiếp tục báo chính quyền địa phương xã P, trưởng khu dân cư chỉ đạo khắc phục để không ngập lúa của gia đình bà. Ủy ban nhân dân xã có cử cán bộ đến kiểm tra và lập biên bản kiểm tra và xác định nguyên nhân gây ra ngập úng diện tích lúa của gia đình. Vì sản lượng lúa không đạt, gia đình ông L, bà L3 không có thiện chí khắc phục thiệt hại cho gia đình bà nên bà đã có đơn đề nghị UBND xã xem xét giải quyết xác định thiệt hại về sản lượng lúa cho gia đình bà. UBND xã đã tiến hành gặt kiểm tra sản lượng thì thu được 72kg lúa ướt/ sào tương đương 62kg thóc khô/ sào. Nếu không bị ngập úng thì năng suất lúa của bà đạt 200kg thóc/ sào. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 phải bồi thường thiệt hại về sản lượng lúa bị mất trên diện tích 02 sào ruộng là 420kg thóc x12.000 đồng/kg = 4.400.000 đ.

Hiện nay gia đình ông L, bà L1 đã hạ cống to đảm bảo thoát nước nên bà không yêu cầu gì khác nữa.

Bị đơn bà Vũ Thị L1 trình bày:

Vào năm 2019, vợ chồng bà có làm nhà cho con trai ra ở riêng trên thửa đất tại sứ đồng Soẹt nhưng mọi vấn đề liên quan đến thửa đất, nhà ở thì đều do ông bà chịu trách nhiệm giải quyết. Khi thực hiện đổ đất, xây dựng nhà thì gia đình bà cũng đã thực hiện làm cống thoát nước ra ngòi Duỗn Trung để không làm ảnh hưởng đến việc cấy lúa của các hộ dân làm ruộng tại sứ đồng Soẹt.

Bà thừa nhận việc gia đình bà Nguyễn Thị N có canh tác trồng lúa tại xứ đồng Soẹt và không có tranh chấp gì với ai. Vụ lúa chiêm năm 2022 (tháng 5/2022) do mưa lớn, đất sạt xuống miệng cống thoát nước nên đã gây tình trạng thoát nước chậm và ngập lúa của các hộ dân xung quanh trong đó có gia đình bà N. Gia đình bà đã đến từng nhà xin khắc phục và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, các hộ đã nhận tiền không yêu cầu gì.

Ngày 25/8/2022 do mưa to nên đã gây ngập lúa của các hộ dân tại xứ Đ. Nguyên nhân gây ngập là do mưa lớn nước không thoát được, thoát chậm, nước từ ngoài ngòi ứ đọng đẩy vào ruộng, nước trên đồi đổ xuống. Sản lượng lúa của bà N và các hộ dân bị ảnh hưởng hoàn toàn do thiên tai chứ không liên quan đến việc hạ cống của gia đình nhà bà. Từ tháng 7 năm 2022, gia đình bà đã hạ cống bi mới (cống hiện tại bây giờ đang sử dụng). Khi thực hiện việc hạ cống thoát nước thì gia đình bà đã báo trưởng khu dân cư và chính quyền địa phương chứng kiến và thừa nhận. Sau khi gia đình bà hoàn thành xong việc hạ cống để làm mương nước thì các hộ dân không có ý kiến gì, không ảnh hưởng đến việc ngập úng.

Bà N có yêu cầu gia đình bà phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là 4.400.000 đồng nhưng bà không đồng ý vì thiệt hại nêu trên của gia đình bà N không phải do lỗi của gia đình nhà bà gây nên.

Bị đơn là ông Cao Văn L khai

ông thống nhất quan điểm như lời trình bày của bà Vũ Thị L1, vì lý do công việc nên ông đề nghị được giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Mạnh H, ông H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nội dung bản tự khai, ông H nhất trí với trình bày của bà Nguyễn Thị N, yêu cầu ông L, bà L1 phải bồi thường thiệt hại số tiền là 4.400.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã:

Căn cứ: khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 589 và Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự;

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu vợ chồng ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 phải bồi thường thiệt hại về tài sản.
  2. Vợ chồng ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị N thiệt hại về tài sản (sản lượng lúa vụ mùa năm 2022 bị giảm sút) số tiền là 1.360.000đ (Một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngoài ra Bản án còn tuyên về chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 26/6/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N kháng cáo buộc ông Cao Văn L và bà Nguyễn Thị L4 bồi thường tài sản cho bà theo đúng bản tổng hợp khảo sát năng xuất lúa trong toàn xã 210kg x 2 sào = 420kg thóc x 120/kg = 4.400.000đồng theo giá lúa mùa tại địa phương.

Tại phiên toà phúc thẩm, bà Nguyễn Thị N giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu về nội dung vụ án:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. (Có bài phát biểu chi tiết kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách đương sự là đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Sự có mặt của đương sự, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa ngày 07/01/2025 bị đơn là ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định mở lại phiên tòa ngày 06/02/2025, ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ lật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử.

[2] Xét về nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, H1 đồng xét xử thấy:

Gia đình bà Nguyễn Thị N đã nhận thầu khoán 720 m² (hai sào ruộng) đất trồng lúa, tại sứ Đ thuộc khu D, xã P thuộc quỹ đất do UBND xã P quản lý. Gia đình bà N đã thực hiện canh tác trồng lúa từ trước năm 2010. Vụ lúa mùa năm 2022 đang trong thời kỳ lúa trổ bông, phơi màu thì bị ngập và dẫn đến giảm sút về năng suất, không đạt sản lượng. Lỗi dẫn thiệt hại là do gia đình ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 đã đổ đất trái phép, làm cống thoát nước nhỏ, sập nên khi mưa xuống gây ngập úng kéo dài làm hư hỏng lúa của gia đình bà N. Do vậy, bà N yêu cầu vợ chồng ông L, bà L1 phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bà toàn bộ là 420kg lúa khô x12.000.000đ/kg = 4.400.000đồng/kg.

Phía ông L và bà L1 thừa nhận bà N có thực hiện canh tác trồng lúa tại 02 thửa ruộng ở xứ Đ. Vụ lúa chiêm năm 2022, do lỗi của gia đình bà làm cống thoát nước nhỏ, không đảm bảo nên đã gây ngập và làm hư hỏng lúa của hộ bà N và cá hộ dân khác. Để khắc phục thiệt hại gia đình bà đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bà N cùng các hộ dân. Đối với thiệt hại trong vụ lúa mùa năm 2022, nguyên nhân do thiên tai gây nên còn gia đình bà không có lỗi vì vậy bà không đồng ý bồi thường cho gia đình bà N.

Căn cứ vào Biên bản kiểm tra do UBND xã P lập ngày 26/8/2022, thể hiện: Tại vị trí cống thoát nước ra ngòi Duẫn Trung lưu lượng thoát chậm, cống bị sập, lòng cống nhỏ hẹp, nước tiêu thoát chậm dẫn đến ngập úng gây thiệt hại và làm giảm năng xuất lúa cho gia đình bà N. Việc bà L1 cho rằng vào tháng 7/2022 gia đình bà đã khắc phục cống bị sập và hạ cống thoát nước như thời điểm hiện tại là không đúng với thực tế. Do vậy cấp sơ thẩm xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại, làm giảm sút về sản lượng lúa vụ mùa năm 2022 của gia đình bà N là do lỗi của ông L và bà L1 là có căn cứ. Tuy nhiên đến thời điểm thu hoạch, UBND xã đã yêu cầu bà N tiến hành thu hoạch để khắc phục bớt thiệt hại nhưng bà N không thu hoạch, Ủy ban nhân dân xã thành lập tổ công tác gặt thống kê để xác định thiệt hại, kết quả thu được là 0,2kg thóc tươi/m2, tương ứng với 72kg thóc tươi/360m2 và bằng 62kg thóc khô/sào. Cấp sơ thẩm đã xác minh tại địa Phương thì sản lượng lúa trung bình của vụ mùa tại sứ Đ của các năm trong trường hợp thời tiết thuận lợi đạt 130kg thóc khô/sào. Giá trị một kg thóc khô tại địa phương trung bình là 10.000đồng/kg thóc khô. Như vậy sản lượng lúa của gia đình bà N trong điều kiện cây lúa phát triển bình thường sẽ là 130kg thóc khô x 2 sào = 260kg thóc khô. Giá trị lúa được tính là 260kg x10.000 đồng/ kg = 2.600.000 đồng, do thời điểm lúa được thu hoạch, UBND xã có yêu cầu bà N thu hoạch nhưng bà N không thực hiện để mặc thiệt hại sẩy ra do vậy bà N cũng có một phần lỗi đối với phần thiệt hại này nên bà N phải chịu một sào là 62kg thóc khô. Như vậy xác định thiệt hại thực tế của gia đình bà N trên diện tích 1 sào (360 m²) là 130kg-62kg=68 kg thóc khô, hai sào ruộng là 136kg thóc khô x 10.000.đ/kg =1.360.000 đồng. Do vậy cấp sơ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N và buộc ông L, bà L1 có nghĩa vụ bồi thường cho bà N giá trị sản lượng lúa bị giảm sút là 1.360.000đồng là có căn cứ.

[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

[4] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bầy tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị N không được chấp nhận nhưng bà N là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhân kháng cáo của bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 589 và Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự;

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu vợ chồng ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 phải bồi thường thiệt hại về tài sản
  2. Vợ chồng ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị N thiệt hại về tài sản (sản lượng lúa vụ mùa năm 2022 bị giảm sút) số tiền là 1.360.000đ (Một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N. Ông Cao Văn L và bà Vũ Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000. đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7,7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ khi tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - TAND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, AV;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 06/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 14/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bà N và ông L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger