Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HSST

Ngày: 05/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Đại; Ông Hoàng Xuân Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa:

Bà Lò Thị Kẻo- Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lý Văn K, sinh năm 1988, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Giẳng, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn K1, sinh năm 1963 và con bà: Lù Thị P, sinh năm1966; Bị cáo có vợ: Lò Thị L, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Lò Thị T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi chiều, ngày 20/7/2024, Lý Văn K một mình đi bộ từ nhà ở bản G, xã M đến nhà anh Lò Văn T1 ở bản Mường Tè, để rủ anh T1 đi làm thuê, sau đó xin ngủ lại qua đêm tại nhà anh T1 và được anh T1 đồng ý. Đến khoảng 09 giờ, ngày 21/7/2024, sau khi ngủ dậy, do lên cơn nghiện nên K đã đi bộ đến bản N, xã N, huyện M để tìm mua ma tuý đem về sử dụng. Tại đây, K gặp và nhờ một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt đi mua hộ được 01 gói Heroine (bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh) với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được H, K cất giấu vào trong túi quần đang mặc, sau đó đi bộ quay về nhà T1. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, K về đến nhà T1, lúc này trong nhà có chị Lò Thị T (vợ T1) nhưng K không nói cho chị T biết mình tàng trữ ma tuý trong người. Sau đó, K tiếp tục đi vào nằm ngủ tại giường mà K ngủ trước đó. Sau khi ngủ dậy, do K thay bộ quần áo đang mặc để đem đi giặt, nên đã đem gói Heroine mà K mua được trước đó giấu vào trong túi của chiếc áo khoác, màu nâu đang treo tại đầu giường ngủ.

Hồi 19 giờ 45 phút ngày 21/7/2024, khi K đang ngồi trên giường thì bị tổ công tác Công an xã M đến kiểm tra, thu giữ gói Heroine mà K đang cất giấu như đã mô tả ở trên. Tổ công tác Công an xã M đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số 106/KLGĐ ngày 22/7/2024 của Người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 01 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lý Văn K có khối lượng là 0,74 gam.

Tại kết luận giám định số 971/GĐ-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh L kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng, thu giữ của Lý Văn K gửi giám định là ma túy, loại Heroine

Tại bản cáo trạng số 102/CT- VKS-MT ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lý Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn K từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc áo khoác vải màu nâu đất; 01 phong bì công văn do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 19 giờ 45 phút ngày 21/7/2024, tại nhà của anh Lò Văn T1 ở bản M, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu, Lý Văn K đang có hành vi cất giấu trái phép 0,74 gam heroine, với mục đích để bản thân sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Lý Văn K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lý Văn K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi

phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc ít người và ít hiểu biết pháp luật. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

Đề nghị của bị cáo xin được hưởng mức án thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội cũng như khối lượng heroine bị cáo tàng trữ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản và không giữ chức vụ gì, bị cáo có 02 con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Lý Văn K khai đã nhờ người phụ nữ dân tộc La H1 mua hộ với giá 200.000 đồng nhưng không biết địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Đối với Lò Thị T và Lò Văn T1 không biết việc Lý Văn K mua và tàng trữ ma túy, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc áo khoác vải màu nâu đất; 01 phong bì công văn do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo là người dân tộc ít người và thuộc hộ nghèo của UBND xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lý Văn K 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc áo khoác vải màu nâu đất; 01 phong bì công văn do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 21/11/2024).

3. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger