Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 12-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Công Trang

Bà Nông Thị Ái Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham

gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn C, sinh ngày: 04/10/1991 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Không rõ. Con bà: Vũ Thị B – sinh năm 1963. Trú tại: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

2. Vy Văn K, sinh ngày: 02/9/1984 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vy Tiến Đ – (Đã chết) và bà: Hoàng Thị C1 – sinh năm 1951. Trú tại: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có vợ là Đỗ Thị D – Sinh năm 1980 và 02 người con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016. Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

3. Vi Văn L, sinh ngày: 06/02/1979 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vi Văn H – (Đã chết) và bà: Tô Thị V – (Đã chết). Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là thứ sáu. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 11/01/2024 đến nay. Có mặt.

4. Đàm Thị T, sinh ngày: 25/3/1981 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Đàm Văn A – (Đã chết) và bà: Hoàng Thị T1 – sinh năm 1950. Trú tại: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có chồng là Hứa Văn Đ1 – (Đã chết) và 02 người con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006. Anh chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 05/01/2024, Tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông tại Quốc lộ A tại địa phận thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã phát hiện Vũ Văn C, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Winnerx, màu đỏ đen biển kiểm soát 20F1-683.08 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện tại giá để đồ trước mũi yên xe có một thùng giấy cát tông kích thước 30x30x30cm, bên trong có 08 hộp pháo loại 36 quả nổ/hộp, mỗi hộp có kích thước 15x15x15cm (pháo đã thành phẩm) bên ngoài có các chữ Trung Quốc. Vũ Văn C khai nhận số pháo trên là của Vũ Văn C, C mua ở khu vực cửa khẩu T2 với mục đích mang về nhà của C tại xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật, thu giữ đồ vật liên quan đưa đối tượng về trụ sở để xác minh làm rõ sự việc.

Công an huyện B tiến hành lập biên bản kiểm tra, xác định trọng lượng số pháo thu giữ của Vũ Văn C với sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B, người chứng kiến. Kết quả: Tổng trọng lượng của 08 (tám) hộp (giàn) pháo là 12 kg (Mười hai kilôgam).

Ngày 06/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 02/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Giám định viên Phòng K1 Công an tỉnh L, giám định pháo. Tại kết luận giám định số 188/KL/KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: 08 (tám) hộp (giàn) pháo gửi giám định đều là pháo và là loại pháo hoa nổ. Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán nên ngày 31/12/2023, Vũ Văn C đã sử dụng điện thoại di động nhắn tin, gọi điện qua ứng dụng Zalo cho chú họ là Vy Văn K, sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để hỏi mua pháo hoa nổ, Vy Văn K đồng ý tìm mua pháo cho Vũ Văn C. Sau đó Vũ Văn C chuyển tiền 02 (hai) lần từ số tài khoản 39010001120241 Ngân hàng T3 - B1 của Vũ Văn C vào số tài khoản 0962857236 Ngân hàng Q của Vy Văn K với tổng số tiền là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) để mua pháo hoa nổ. Vũ Văn C chuyển khoản lần 1 vào ngày 01/01/2024 với số tiền là 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), lần 2 vào ngày 02/01/2024 với số tiền là 4.300.000 đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, ngày 02/01/2024, Vy Văn K gặp Vi Văn L, sinh năm 1979 cùng trú cùng thôn, Vy Văn K bảo Vi Văn L lấy cho Vy Văn K 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền pháo hoa nổ loại 36 quả một giàn (hộp), Vi Văn L đồng ý. Vi Văn L đề nghị Vy Văn K đưa tiền mua pháo bằng tiền mặt nhưng Vy Văn K chỉ có tiền trong tài khoản ngân hàng. Do Vi Văn L không có tài khoản ngân hàng nên Vi Văn L bảo Vy Văn K chuyển tiền mua pháo vào số tài khoản 1043251606 Ngân hàng Thương mại cổ phần N - V1 của Đàm Thị T, sinh năm 1981, trú tại thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vy Văn K chuyển tiền mua pháo từ số tài khoản 0962857236 Ngân hàng Q của Vy Văn K vào số tài khoản 1043251606 Ngân hàng V1 của Đàm Thị T 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Hôm sau, ngày 03/01/2014, Vy Văn K gặp và đưa thêm cho Vi Văn L 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền mặt, Vy Văn K còn nợ Vi Văn L 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi Vy Văn K chuyển khoản tiền mua pháo, do có mối quan hệ tình cảm với Đàm Thị T nên Vi Văn L đã gặp và nhờ Đàm Thị T mua 08 (tám) giàn pháo hoa nổ loại 36 quả một giàn để bán cho Vy Văn K, Đàm Thị T đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 03/01/2024, Đàm Thị T đi bộ lên khu vực giáp biên giới thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (gần khu vực cột mốc 1206) để mua pháo. Tại đây, Đàm Thị T gặp một người phụ nữ không quen biết và hỏi muốn mua 08 (tám) giàn pháo hoa loại 36 quả một giàn, người phụ nữ trả lời là có pháo để bán. Đàm Thị T đã mua với người phụ nữ 08 (tám) giàn pháo hoa loại 36 quả một giàn với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đàm Thị Tuyết giấu 08 (tám) giàn pháo hoa vừa mua vào bụi cây rồi đi gặp Vi Văn L, thông báo đã mua được pháo và bảo Vi Văn L lên vị trí mà Đàm Thị T cất giấu pháo để lấy. Ngày 04/01/2024, Vi Văn L đi bộ lên địa điểm mà Đàm Thị Tuyết giấu pháo để lấy rồi mang đến nhà cho Vy Văn K. Vy Văn K cất 08 giàn pháo vào trong phòng ngủ, rồi gọi điện thông báo cho Vũ Văn C là đã mua được pháo và bảo Vũ Văn C đến nhà lấy. Chiều ngày 05/01/2024, Vũ Văn C đi xe máy đến nhà Vy Văn K tại thôn N, xã X, huyện C để lấy pháo. Vũ Văn C lấy một thùng giấy cát tông ở nhà Vy Văn K, cho 08 giàn pháo hoa vào trong thùng rồi đặt chiếc thùng ở giá để đồ trước mũi yên xe máy của Vũ Văn C. Sau đó điều khiển xe đi từ khu vực xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về nhà Vũ Văn C ở xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, đi đến địa phận thôn N, xã T, huyện B, tỉnh lạng Sơn thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

* Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận:

- Vũ Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi vận chuyển hàng cấm (pháo hoa nổ) của bản thân. Do có nhu cầu mua pháo hoa về sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán nên Vũ Văn C đã mua của Vy Văn K 08 giàn (hộp) pháo hoa nổ, loại 36 quả một giàn với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Trên đường vận chuyển số pháo về nhà tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang. Quá trình vận chuyển số pháo từ xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về nhà thì chiếc điện thoại di động mà Vũ Văn C sử dụng để liên lạc mua pháo với Vy Văn K bị rơi mất, không biết rơi lúc nào, rơi ở đâu. Chỉ khi bị lực lượng Công an bắt giữ thì Vũ Văn C mới phát hiện đã bị rơi mất chiếc điện thoại. Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Winnerx, màu đỏ đen, biển kiểm soát 20F1-683.08 mà C sử dụng để vận chuyển pháo nổ là chiếc xe máy do mẹ của Vũ Văn C là bà Vũ Thị B bỏ tiền ra mua, do bà Vũ Thị B không biết đi xe máy nên để cho Vũ Văn C đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy. Việc Vũ Văn C sử dụng chiếc xe máy đi vận chuyển pháo, bà Vũ Thị B không biết.

- Vy Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ) của bản thân. Do có quan hệ họ hàng với Vũ Văn C (Vũ Văn C gọi Vy Văn K là chú) nên khi C nhờ mua pháo hoa nổ K đồng ý. Sau khi C chuyển khoản 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho Vy Văn K để mua pháo, Vy Văn K đã gặp Vi Văn L, nhờ Vi Văn L mua cho Vy Văn K 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền pháo hoa nổ. Khi Vi Văn L mang 08 giàn pháo hoa đến nhà bán cho Vy Văn K, Vy Văn K cất ở trong phòng ngủ, việc này Vy Văn K thực hiện một mình và không ai biết. Ngày 05/01/2024, Vũ Văn C đến nhà Vy Văn K lấy pháo, lúc này chỉ có Vy Văn K ở nhà nên không có ai chứng kiến hay biết việc. Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) Vy Văn K giữ lại để làm công mua, bán pháo cho Vũ Văn C và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) Vy Văn K còn nợ Vi Văn L, Vy Văn K đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

- Vi Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ) của bản thân. Khi Vy Văn K nhờ Vi Văn L mua cho 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) pháo hoa nổ, Vi Văn L đã nhờ Đàm Thị T mua cho 08 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả một hộp để bán cho Vy Văn K. Sau khi Đàm Thị T mua được pháo và cất giấu ở bụi cây, ngày 04/01/2024 Vi Văn L một mình đi bộ lên vị trí cất giấu pháo để lấy 08 giàn pháo hoa nổ, mang đến nhà Vy Văn K để bán cho Vy Văn K. Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) mà Vy Văn K chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Đàm Thị T để mua pháo, Vi Văn L đã bảo Đàm Thị T đưa lại cho Vi Văn L 2.000.000 đồng, còn lại Vi Văn L bảo Đàm Thị Tuyết giữ lại sử dụng coi như là tiền công mua pháo cho Vi Văn L. Tổng số tiền mà Vi Văn L được hưởng lợi từ việc mua bán pháo là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), bao gồm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) Đàm Thị T đưa lại cho Vi Văn L và 500.000 đồng tiền mặt mà Vy Văn K đưa cho Vi Văn L; Số tiền này Vi Văn L đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

- Đàm Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ) của bản thân. Sau khi Vi Văn L nhờ mua 08 giàn pháo hoa nổ, Đàm Thị T một mình đi lên khu vực giáp biên thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để mua pháo. Tại đây Đàm Thị T đã mua với một người phụ nữ không quen biết (không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu) 08 giàn pháo hoa loại 36 quả một giàn với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Do người phụ nữ mặc quần áo dài, bịt khăn kín mặt nên Đàm Thị T không nhìn được đặc điểm người phụ nữ bán pháo cho Đàm Thị Tuyết . Sau khi mua được pháo, Đàm Thị Tuyết g pháo ở bụi cây rồi thông báo cho Vi Văn L lên vị trí giấu pháo để lấy. Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) mà Vy Văn K chuyển vào tài khoản ngân hàng của Đàm Thị T, Đàm Thị T đã đưa cho Vi Văn L 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), mua pháo hết 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), còn 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) Vi Văn L bảo Đàm Thị Tuyết giữ lại là tiền công mua pháo cho Vi Văn L. Số tiền này Đàm Thị T đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Ngày 11/01/2024, ra Quyết định khởi tố bị can đối với Vũ Văn C về Tội vận chuyển hàng cấm (pháo hoa nổ) quy định tại điểm c khoản 1, Điều 191 Bộ luật Hình sự. Quá trình mở rộng điều tra, ngày 11/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T về hành vi Buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ). Ngày 17/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T về tội Buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ) quy định tại điểm c khoản 1, Điều 190 Bộ luật Hình sự. Đối với người phụ nữ đã bán pháo cho Đàm Thị T tại khu vực giáp biên thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Do không có thông tin nên không thể tiến hành điều tra, xác minh.

Đối với bà Vũ Thị B, sinh năm 1963, trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là mẹ đẻ của Vũ Văn C. Do Vũ Văn C không có việc làm ổn định, chưa kết hôn, làm chỉ đủ nuôi sống bản thân nên năm 2022 bà Vũ Thị B đã bỏ tiền ra mua một chiếc xe máy hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 20F1-683.08 để làm phương tiện đi lại cho cả gia đình. Do không biết đi xe máy nên bà Vũ Thị B đã để cho con trai là Vũ Văn C đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy. Việc Vũ Văn C sử dụng chiếc xe máy đi vận chuyển pháo, bà Vũ Thị B không biết. Bà Vũ Thị B không có chồng, hiện già yếu, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, hiện tại chiếc xe máy trên là tài sản, là phương tiện duy nhất để phục vụ việc đi lại cho cả gia đình nên bà Vũ Thị B đã viết Đơn trình bày đề nghị cơ quan chức năng tạo điều kiện trả lại chiếc xe máy hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 20F1-683.08 cho bà Vũ Thị B.

Tại Cáo trạng số: 12/CT-VKS-BG ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn C; điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T; đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo Vy Văn K từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo Vi Văn L từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo Đàm Thị T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N1 cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh L, chữ ký cùng tên của giám định viên và trợ lý giám định, bên trong có 05 (năm) hộp pháo loại 36 quả/hộp, đều có kích thước 15x15x15cm (Còn 03 hộp đã phục vụ cho công tác giám định). Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRO màu đen, máy cũ đã qua sử dụng, bị vỡ, xước nhiều chỗ của Đàm Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám đen, máy cũ đã qua sử dụng, bị vỡ, xước nhiều chỗ của Vy Văn K do sử dụng vào việc mua bán pháo hoa nổ. Trả lại cho bà Vũ Thị B 01 (một) xe máy BKS 20F-683.08, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng cho bà Vũ Thị B. Truy thu tổng số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) thu lợi bất chính từ việc buôn bán pháo nổ của các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L, Đàm Thị Tuyết . Ghi nhận các bị cáo đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào hồi 20 giờ 20 ngày 05/01/2024, tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông tại Quốc lộ A thuộc thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn C, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi vận chuyển hàng cấm (pháo hoa nổ) từ xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về nhà với mục đích sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Tổng trọng lượng của 08 (tám) hộp (giàn) pháo là 12 kg (Mười hai kilôgam). Quá trình điều tra xác định, Vũ Văn C mua pháo hoa nổ với Vy Văn K; Vy Văn K mua số pháo hoa nổ trên với Vi Văn L; Vi Văn L nhờ Đàm Thị Tuyết mua với một người phụ nữ không quen biết tại khu vực giáp biên thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ) với mục đích mua để bán kiếm lời. Do đó có căn cứ xác định bị cáo Vũ Văn C về tội "Vận chuyển hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L, Đàm Thị T về tội "Buôn bán hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố các bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn dân cư. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo tội danh, hình phạt đã quy định tại Bộ luật Hình sự.

[4] Đây là vụ án hình sự mang tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nên cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra, xong về nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó. Bị cáo Vũ Văn C là người nhờ bị cáo Vy Văn K mua pháo hoa nổ để sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán. Bị cáo Vy Văn K là người nhờ bị cáo Vi Văn L mua pháo hoa nổ cho bị cáo Vũ Văn C. Bị cáo Vi Văn L là người nhờ bị cáo Đàm Thị T mua pháo hoa nổ để bán cho bị cáo Vy Văn K. Bị cáo Đàm Thị T là người trực tiếp mua pháo hoa nổ và giấu pháo ở bụi cây rồi thông báo cho bị cáo Vi Văn L lên vị trí giấu pháo để lấy. Các bị cáo đều có vai trò tích cực ngang nhau trong vụ án.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo Vũ Văn C phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Đàm Thị T thuộc hộ gia đình cận nghèo, chồng đã chết nên là lao động chính trong gia đình, hiện sức khỏe yếu và đang nuôi con bị liệt nửa người bẩm sinh. Ngày 13/5/2024, bị cáo Đàm Thị T đã ủng hộ Quỹ phòng chống lụt bão năm 2024 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Ngày 15/5/2024, bị cáo Vy Văn K đã ủng hộ Quỹ phòng chống lụt bão năm 2024 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Do đó các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Văn C được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về nhân thân: Các bị cáo là có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[7] Xét thấy, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh L, chữ ký cùng tên của giám định viên và trợ lý giám định, bên trong có 05 (năm) hộp pháo loại 36 quả/hộp, đều có kích thước 15x15x15cm (Còn 03 hộp đã phục vụ cho công tác giám định). Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRO màu đen, máy cũ đã qua sử dụng, bị vỡ, xước nhiều chỗ của Đàm Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám đen, máy cũ đã qua sử dụng, bị vỡ, xước nhiều chỗ của Vy Văn K do sử dụng vào việc mua bán pháo hoa nổ. Trả lại cho bà Vũ Thị B 01 (một) xe máy BKS 20F-683.08, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng do bà Vũ Thị B là người bỏ tiền ra mua xe, bà không biết việc Vũ Văn C lấy xe đi vận chuyển pháo và đã có Đơn trình bày đề nghị cơ quan chức năng tạo điều kiện trả lại chiếc xe máy.

Truy thu tổng số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) thu lợi bất chính từ việc buôn bán pháo nổ của các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L, Đàm Thị Tuyết . Ghi nhận các bị cáo đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

[10] Về án phí: Căn cứ theo Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Vũ Văn C, Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

[11] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12] Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

[13] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn C;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T;

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 262; khoản 4 Điều 328; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội "Vận chuyển hàng cấm"; các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo Vy Văn K 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Vi Văn L 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo Vi Văn L tại phiên tòa.

Xử phạt bị cáo Đàm Thị T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  1. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh L, chữ ký cùng tên của giám định viên và trợ lý giám định, bên trong có 05 (năm) hộp pháo loại 36 quả/hộp, đều có kích thước 15x15x15cm (Còn 03 hộp đã phục vụ cho công tác giám định).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRO màu đen, máy cũ đã qua sử dụng, bị vỡ, xước nhiều chỗ của Đàm Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám đen, máy cũ đã qua sử dụng, bị vỡ, xước nhiều chỗ của Vy Văn K.

Trả lại tài sản là 01 (một) xe máy BKS 20F-683.08, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng cho bà Vũ Thị B.

Truy thu bị cáo Vy Văn K số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Ghi nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai số 0003507 ngày 27/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Truy thu bị cáo Vi Văn L số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Ghi nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai số 0003508 ngày 27/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Truy thu bị cáo Đàm Thị T số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Ghi nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai số 0003509 ngày 27/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

  1. Về án phí: Các bị cáo Vũ Văn C, Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
  2. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về vụ án hình sự về tội vận chuyển hàng cấm và buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Vận chuyển hàng cấm và Buôn bán hàng cấm (Pháo hoa nổ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 20 giờ 20 ngày 05/01/2024, tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông tại Quốc lộ A thuộc thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn C, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi vận chuyển hàng cấm (pháo hoa nổ) từ xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về nhà với mục đích sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Tổng trọng lượng của 08 (tám) hộp (giàn) pháo là 12 kg (Mười hai kilôgam). Quá trình điều tra xác định, Vũ Văn C mua pháo hoa nổ với Vy Văn K; Vy Văn K mua số pháo hoa nổ trên với Vi Văn L; Vi Văn L nhờ Đàm Thị Tuyết mua với một người phụ nữ không quen biết tại khu vực giáp biên thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vy Văn K, Vi Văn L và Đàm Thị T có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo hoa nổ) với mục đích mua để bán kiếm lời.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger