TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày: 26-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Lưu Chúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Niê Y Ling;
- Ông Phạm Xuân Lai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Alê Y D; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1997 tại: Phú Yên; Nơi cư trú: Buôn C, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê Đê; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Ksor Y D1, sinh năm 1977 và bà A lê Hờ L, sinh năm 1982; Vợ: Huỳnh Thị M, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Khánh D2 – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957 (đã chết). Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Nguyễn Văn Đ: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
*Người làm chứng:
- Ông Lưu Minh L1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Cháu Nguyễn Ngọc O, sinh năm 2009. Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Do ông Nguyễn Văn P – Cha ruột đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
- Chị Nông Thị T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/8/2023, A lê Y D (Không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 78 M1-150.31, dung tích xi lanh 110,3cm³ mua lại của Ksor Y B, chưa sang tên, lưu hành trên đường T theo hướng Bắc-Nam, khi đến tại Km 492+440 thuộc thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên, Y D quan sát thấy phía trước mép đường bên phải cách 5,8m là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957, trú tại thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên đang đi bộ ngang qua đường (từ phải sang trái), lúc ngày Y D điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái tính theo hướng lưu hành để tránh, nhưng do khoảng cách quá gần nên phía trước đầu xe của Y D tông vào người ông Đ gây tai nạn. Hậu quả làm ông Đ chết trên đường đi cấp cứu (BL 22-45, 74-114).
Bản kết luận giám định tử thi số 438/KLGĐTT-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Nguyễn Văn Đ chết do chấn thương vỡ sọ, giập não (BL47-48).
Kết luận giám định số 116/KL-KTHS, ngày 28/8/2023 của Phòng K công an tỉnh P kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Văn Đ do Cơ quan CSĐT Công an huyện S thu ngày 04/8/2023 không tìm thấy E (cồn) trong máu (BL 56).
Bị can A Lê Y D3 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ số tiền 43.000.000 đồng và được gia đình bị bại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, người bị hại có một phần lỗi.
Vật chứng và biện pháp xử lý: Đã trả lại xe mô tô biển số 78M1-150.31 cho chủ sở hữu.
Cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố: Bị cáo A Lê Y D3 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự;
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo có bản luận cứ bào chữa: Bị hại qua đường thiếu quan sát, tình huống bất ngờ dẫn đến tai nạn, đã tích cực bồi thường cho bị hại, được đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhận thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bồi thường thêm.
* Kiểm sát viên luận tội đối với Bị cáo:
- - Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo A Lê Y D3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 54, điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo A Lê Y D3 từ 18 tháng đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.
- - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo và bị hại.
- - Về xử lý vật chứng: Xe mô tô đã trả lại cho bị cáo nên không xem xét.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu, chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút, tại Km 492+440 đường T thuộc thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. A Lê Y D3 không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô 78M1-150.31 gây tai nạn với ông Nguyễn Văn Đ đi bộ ngang qua đường. Hậu quả ông Đ chết trên đường cấp cứu.
Hành vi không có giấy phép lái xe, điều khiển phương tiện tham gia giao thông thiếu quan sát gây tai nạn với người qua đường, hậu quả làm chết 01 người đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn Đ qua đường tại nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường nhưng thiếu quan sát, qua đường khi không bảo đảm an toàn đã vi phạm khoản 2 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Như vậy, ông Đ cũng có một phần lỗi khi xảy ra tai nạn. Đây là căn cứ xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi số tiền 43.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đại điện hợp pháp của người bị hại xin miễn trách nhiệm hình phạt đối với bị cáo nhưng không đủ điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự nên xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.
[4] Tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Xét bị cáo A Lê Y D3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại, nên áp dụng khoản 1 điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nhưng cũng có một phần lỗi lớn của người bị hại qua đường thiếu quan sát, không bảo đảm an toàn, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu, được đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn hình phạt, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ; Bị cáo có nơi cứ trú rõ ràng; Xét thấy, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù vì người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường số tiền 43.000.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng: Không.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố bị cáo A Lê Y D3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo A Lê Y D3 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, kể từ ngày tuyên án.
- - Giao bị cáo A Lê Y D3 cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và 68 Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường số tiền 43.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng: Không.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo A Lê Y D3 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Lưu Chúc |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ale Y D phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
