|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Oanh
2. Ông Tạ Ngọc Viên
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Kiều Trần N, sinh năm: 2001; Nơi ĐKHKTT thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà N1; Con ông không rõ và bà Kiều Thị Tuy H; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình;
Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 06/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tp . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/6/2024, chuyển tạm giam ngày 22/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận (có mặt tại điểm cầu thành phần).
* Người có nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Trần Thái P, sinh năm: 1983 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Phường P, TP ., tỉnh Bình Thuận.
Nơi ở hiện nay: Số E, đường V, tổ D, khu phố F, P.B, TP ., tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 11/6/2024, Kiều Trần N, sinh năm 2001, thường trú thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận là nhân viên của Đ vui chơi giải trí Hoàng Thiên P1 đang hoạt động ở Trung tâm văn hóa huyện P dùng điện thoại của mình liên lạc cho một người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) cư trú ở Tp ., tỉnh Bình Thuận để mua ma túy với giá 1.800.000 đồng. T đồng ý rồi đọc số tài khoản ngân hàng của mình để N chuyển tiền mua ma túy qua. Sau đó, N dùng phần mềm VCB D1 của Ngân hàng V trên điện thoại, chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V có số 1025208634 tên KIEU TRAN NHA qua số tài khoản cho T vừa cung cấp với số tiền là 1.800.000 đồng. Sau khi, T xác nhận đã nhận được tiền từ Nhả thì T hỏi lại tên và số điện thoại của N để bỏ ma túy đóng chung một số đồ vào thùng carton có ghi tên và số điện thoại của Nhà rồi gửi tàu ra đảo P.
Đến khoảng 09 giờ ngày 13/6/2024, N xuống tàu Superdong Phú Quý I lấy 01 thùng carton có ghi tên và số điện thoại của N. Sau khi lấy được thùng carton thì N đã xóa số điện thoại liên lạc của T, rồi mang thùng carton về phòng trọ ở H tại ở thôn M, xã T, huyện P. Tại đây, N mở thùng carton thì thấy bên trong có một 01 túi nylon trong suốt được hàn kín 01 đầu, bên trong chứa ma túy đá. Sau đó, N lấy một ít ma túy đá ra rồi sử dụng tại phòng trọ. Sau khi sử dụng ma túy đá xong, N lấy túi nylon chứa ma túy cất vào trong vỏ hộp thuốc mỡ bôi da hiệu “BETACYLIC” mang đi chỗ khác để sử dụng tiếp. Khi đi tới đoạn đường N thuộc thôn M, T, P thì N thấy lực lượng chức năng đang tuần tra nên đã bỏ vỏ hộp thuốc đựng túi nylon chứa ma túy đá vào trong chiếc nón vải Nhả đang đội trên đầu và ném xuống đất chỗ vị trí Nhả đang đứng. Lúc này, lực lượng chức năng đi đến và kiểm tra thì phát hiện trong cái nón vải chứa túi nylong có ma túy nên đã bắt giữ N và đưa N cùng toàn bộ tang vật về cơ quan làm việc. Quá trình làm việc, Kiều Trần N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngày 14/6/2024, qua xét nghiệm tại Trung tâm y tế Q huyện P, tỉnh Bình Thuận xác định Kiều Trần N dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 675/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K2, Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu gửi giám định là Methamphetamine, khối lượng 0,5116 gam".
Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSPQ ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý truy tố Kiều Trần N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận thực hành quyền công tố phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 32, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); xử phạt: Bị cáo Kiều Trần N từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án:
Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu và tiêu hủy 01 hộp giấy có in chữ BETACYLIC, 01 (một) túi ni lông trong suốt đã cắt lấy mẫu cùng 0,4862 gam mẫu M (ma túy Methamphetamine) còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 675, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B.
Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu đen, số imei 869383035811413, được gắn sim số 0347377618 được niêm phong trong phong bì dán kín màu trắng, trên phong bì có dòng chữ CÔNG AN HUYỆN PHÚ QUÝ, có chữ ký của Trần Ánh D, Huỳnh Duy K, Nguyễn Thị K1 và bị can Kiều Trần Nhả .
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên; đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo Kiều Trần N tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, mở niêm phong vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, Kiều Trần N xuống tàu Superdong Phú Quý I lấy 01 thùng carton bên trong có chứa ma túy đá. Sau đó, N mang về nhà trọ lấy một ít ra sử dụng, số còn lại N cất vào trong vỏ hộp thuốc mỡ bôi da hiệu “BETACYLIC” và mang đi trên đường N thuộc thôn M, T, P, tỉnh Bình Thuận thì thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật là 1 gói ma túy. Kết quả giám định có khối lượng 0,5116 gam là ma túy Methamphetamine, mục đích bị cáo tàng trữ là để sử dụng. Như vậy, hành vi của Kiều Trần N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Kiều Trần N là nguy hiểm cho xã hội, đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm về ma tuý trong xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Đối với các đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch), Bùi Trần Thái P quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ thì tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 hộp giấy có in chữ BETACYLIC, 01 túi ni lông trong suốt đã cắt lấy mẫu cùng 0,4862 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 675, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B. Vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7, số thuê bao 0347377618 được niêm phong trong phong bì dán kín màu trắng, trên phong bì có dòng chữ CÔNG AN HUYỆN PHÚ QUÝ, có chữ ký của Trần Ánh D, Huỳnh Duy K, Nguyễn Thị K1 và bị can Kiều Trần Nhả . Đây là vật chứng bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy và có giá trị sử dụng nên tịch thu sung công.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổ, bổ sung 2017).
1. Tuyên bố: Bị cáo Kiều Trần N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Kiều Trần N 1 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 13/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Kiều Trần Nhả .
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổ, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy có in chữ BETACYLIC, 01 túi ni lông trong suốt đã cắt lấy mẫu cùng 0,4862 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 675, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7, số thuê bao 0347377618 được niêm phong trong phong bì dán kín màu trắng, trên phong bì có dòng chữ CÔNG AN HUYỆN PHÚ QUÝ, có chữ ký của Trần Ánh D, Huỳnh Duy K, Nguyễn Thị K1 và bị can Kiều Trần Nhả .
(Vật chứng nêu trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận theo biên bản giao nhận ngày 09/9/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Kiều Trần N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2024).
|
Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Phú Quý; - Công an huyện Phú Quý; - Chi cục THADS huyện Phú Qúy; - Bị cáo; - Lưu VP, HS vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Kiệt |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Kiều N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
