Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Chu Tuyết Ngân
  • - Ông Ty Minh Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1, Chìu Văn Q: sinh ngày 24/8/1998 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: bản T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chìu C (đã chết) và bà: Lỷ Nhì M; Vợ: Quàng Thị N, con: có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: chưa

Nhân thân: Ngày 01/11/2015 bị TAND huyện Đầm Hà xử phạt 04 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Năm 2018, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị bắt tạm giam ngày 24/8/2024. Hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên toà.

2, Chạc A: sinh ngày 02/9/1991 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: bản Tài L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Sán Chay; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chạc S và bà: Chìu Thị K; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa

Nhân thân: Năm 2016, bị TAND huyện Đầm Hà xử phạt 06 tháng tù về tội: “Đánh bạc”. Ngày 13/6/2017, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương.

Bị bắt tạm giam ngày 24/8/2024. Hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Chìu Văn Q và bị cáo Chạc A N1: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng:

  • + Chị Triệu Thị N2, sinh ngày 02/9/1991, nơi cư trú: phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do
  • + Chị Tẩn San M1, sinh ngày 10/3/2008, nơi cư trú: phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do. Người đại diện theo pháp luật của Tẩn San M1 là anh Tẩn Sài P, sinh năm 1970, nơi cư trú: bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không có lý do.
  • + Chị Đinh Thị H1, sinh ngày 03/12/1992, nơi cư trú: phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do
  • + Anh Lương Đại B, sinh ngày 12/6/1993, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do.
  • + Anh Lê Văn N3, sinh ngày 20/11/1988, nơi cư trú: phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chìu Văn Q, Chạc A N1 và Triệu Thị N2, Đinh Thị H1, Lương Đại B là bạn bè quen biết qua mạng xã hội. Khoảng 00 giờ 30 ngày 06/5/2024 Q thấy H1, N2 đăng ảnh đang ngồi chơi, nghe nhạc lên mạng xã hội Facebook nên đã sử dụng tài khoản “Văn Quý” nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản “Ngọc L” của N2, “Hiền My” của H1 thì được biết H1 và N2 đang ở huyện Đ. Thấy vậy, Q liền rủ H1, N2 sử dụng ma túy. H1 và N2 nhắn tin rủ Q ra quán Bar T thuộc phố C, thị trấn Đ, huyện Đ chơi và nghe nhạc. Khi đi Q mang theo 01 túi ma túy loại “Ke” (Ketamine) và 01 viên “thuốc lắc” (là loại ma túy MDMA) rồi rủ N1 cùng đến quán BaT. Khi đến, Q thấy Lương Đại B đi ngang qua nên rủ B vào nghe nhạc, uống bia cùng Q, Nhì, H1, N2. Do có ý định rủ mọi người đi hát và sử dụng ma túy nên Q bảo N1 góp 2.000.000đ để trả tiền phòng hát Karaoke, còn Q sẽ chuẩn bị ma túy cho mọi người sử dụng. Nhì đồng ý nhưng do chưa có tiền nên bảo Q ứng tiền trả trước, N1 sẽ trả lại cho Q sau.

Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Q rủ mọi người đến quán K1, thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ để hát, nghe nhạc. Tại đây, Q lấy từ trong ví ra 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy “Ke” dạng bột trắng, 01 viên “thuốc lắc”, 01 tờ tiền Việt Nam loại polyme mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền Trung Quốc loại tiền giấy mệnh giá 50 nhân dân tệ. Q đổ ma túy “Ke” lên tờ tiền Trung Quốc rồi cuộn tờ tiền Việt Nam thành dạng ống tròn (dùng phần đầu lọc của điếu thuốc lá để cố định thành ống hút). Lúc này, N1 gọi và rủ thêm Tẩn San M1, sinh ngày 10/3/2008, trú quán bản Tân Séo Phìn, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, đang tạm trú tại phố T, thị trấn Đ, huyện Đ) đến quán để phục vụ rót bia và sử dụng ma túy. Q bẻ đôi viên “thuốc lắc” đưa cho N1 một nửa, nửa còn lại Q tiếp tục bẻ đôi đưa một phần cho H1 sử dụng, một phần Q sử dụng bằng cách ngậm trực tiếp vào miệng rồi nuốt. Nhì cũng bẻ đôi nửa viên thuốc lắc đưa một phần cho M1 sử dụng, phần còn lại N1 sử dụng cũng bằng cách nuốt trực tiếp. Q tiếp tục dùng ống hút (tờ tiền Việt Nam đã cuộn lại) để hít chất ma túy “Ke” trên tờ tiền Trung Quốc, rồi chuyển cho N1. N1 sử dụng xong chuyển lại cho M1 sử dụng, sau đó Q lấy lại đưa cho H1, N2, M1 tiếp tục sử dụng rồi để lại trên bàn uống nước để cho mọi người sử dụng. Riêng B không sử dụng ma túy. Một lúc sau, khi đã sử dụng hết ma túy, Q vứt tờ tiền Trung Quốc cùng túi nilon đựng ma túy vào bồn cầu rồi xả nước. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện Đ kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Cơ quan Công an thu giữ 01 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng trên nền sàn của phòng hát, thu giữ của Triệu Thị N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, bên trong không lắp sim.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu tại Trung tâm Y tế huyện Đ ngày 06/5/2024 của Đinh Thị H1, Triệu Thị N2, Tẩn San M1, Chìu Văn Q, Chạc A đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine và MDMA.

Tại bản Kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 13/5/2024 và bản Kết luận giám định số 1222 ngày 09/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Ketamine dạng vết, không xác định được khối lượng trên tờ tiền Việt Nam loại 10.000 đồng; tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Q, Nhì, H1, N2, M1.

Quá trình điều tra, các bị can Chìu Văn Q, Chạc A N1 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, Q còn khai: Nguồn gốc số ma túy cho mọi người sử dụng nêu trên là của Q lấy của một thanh niên không quen biết vào trước đó khoảng 10 ngày khi nghe nhạc tại quán Bar T, thành phố M.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Triệu Thị N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, bên trong không lắp sim. Riêng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng chuyển thi hành án để xử lý theo quy định.

Cáo trạng số 594/CT-VKSĐH ngày 06/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà truy tố các bị cáo Chìu Văn Q và Chạc A N1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Người làm chứng là chị Triệu Thị N2, Đinh Thị H1, Tẩn San M1, Lương Đại B, Lê Văn L1 tại cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay.

Tại phiên tòa các bị cáo Chìu Văn Q và Chạc A đều thừa nhận hành vi phạm tội mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Các bị cáo không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, không khiếu nại thắc mắc gì về kết luận giám định, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Chìu Văn Q và bị cáo C A N1 là luật sư Nguyễn Thị H có quan điểm đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo. Luật sư đề nghị hội đồng xét xử xem xét đến các yếu tố: các bị cáo sống ở vùng kinh tế khó khăn, là đồng bào dân tộc thiểu số, bị cáo Q có hoàn cảnh khó khăn con bị cáo còn nhỏ mới sinh năm 2024 để cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Chìu Văn Q và Chạc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Chìu Văn Q từ 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù đến 8 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 24/8/2024.
  • - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo C A Nhì từ 7 (bảy) năm đến 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 24/8/2024.

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng bên trong phong bì niêm phong số 648/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh Q, mặt sau phong bì có 04 dấu đỏ ở 4 góc và chữ ký của Vũ Việt P1 và Nguyễn Minh N4.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Người làm chứng là chị Triệu Thị N2, Tẩn San M1, Đinh Thị H1, anh Lương Đại B và anh Lê Văn L1 vắng mặt không có lý do việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về chứng cứ xác định có tội:

Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh Q, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/5/2024, tại quán K1 thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, Chìu Văn Q và Chạc A có hành vi tổ chức cho Triệu Thị N2, Đinh Thị H1, Tẩn San M1 (trong đó Tẩn San M1 là người dưới 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy, loại Ketamine và MDMA.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Chìu Văn Q và Chạc A N1 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, tiếp tay cho hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm trật tự an ninh xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng buồn phiền cho những người thân trong gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và loại tội phạm khác. Các bị cáo Q, N1 là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, mua bán trao đổi, sử dụng nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do các bị cáo Q, N1 tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng ma tuý trong đó có chị Tẩn San M1 chưa đủ 18 tuổi, do vậy hành vi của các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” và “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Chìu Văn Q và Chạc A N1 phạm tội Tổ chức trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a, .....

b, Đối với 02 người trở lên.

c, Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Q, Nhì đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[5] Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo và hướng xử lý:

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Q là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê các bị cáo N1 chung tiền cùng nhau tổ chức sử dụng ma tuý và là người chuẩn bị ma túy, chia ma túy cho mọi người sử dụng, chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy nên giữ vai trò đầu vụ. Còn bị cáo N1 sau khi được Q rủ góp tiền sử dụng ma túy tuy không có tiền ngay nhưng vẫn đồng ý chung tiền để tổ chức sử dụng ma túy và đưa lại tiền sau cho Q. Sau khi đến quán N1 cũng gọi M1 đến và đưa ma túy cho M1 sử dụng. Nên bị cáo N1 có vai trò sau bị cáo Q. Ngoài ra, cả hai bị cáo đều là người có nhân thân xấu. Đều đã phải đi chấp hành hình phạt tù về những hành vi phạm tội của mình nhưng không thấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội, khách thể xâm phạm, lỗi và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với xã hội.

[6] Về vật chứng:

- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là công cụ phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Chìu Văn Q và Chạc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Chìu Văn Q 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2024.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Chạc A N1 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2024.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bên trong phong bì niêm phong số 648/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh Q, mặt sau phong bì có 04 dấu đỏ ở 4 góc và chữ ký của Vũ Việt P1 và Nguyễn Minh N4.

(Toàn bộ vật chứng tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/11/2024 giữa Công an Huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS; CA; THADS huyện Đầm Hà;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Đầm Hà;
  • - Cơ quan thi hành án Hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chìu Văn Q cùng đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger