Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Văn Tường.

2/ Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cum Anh - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần

Thơ tham gia phiên toà: Ông Lưu Minh Cường – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Thiện T, sinh ngày 30/10/1998. Nơi sinh: Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1964, bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện P, thành phố Cần Thơ.

2/ Họ và tên: Trần Hoàng H1, sinh ngày 02/8/1998. Nơi sinh: An Giang. Đăng ký thường trú: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng B, sinh năm 1969 và bà Trương Thị H2, sinh năm 1970; bị cáo có 03 chị em: lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2003; vợ Mai Thị Hồng M, sinh năm 2002, con có 01 người sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện P, thành phố Cần Thơ.

3/ Họ và tên: Đàm Văm L, sinh ngày 25/9/1995. Nơi sinh: Trà Vinh. Đăng ký thường trú: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Minh T1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Bé H3, sinh năm 1974; bị cáo có 01 người em, sinh năm 2001; vợ Chu Thị Thu V, sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện P, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

2/ Ông Đàm Minh T1, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

3/ Ông Lê Văn K, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà C, ông T1 có mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án thứ nhất: Đàm Văn L1 và Trần Hoàng H1 là đối tượng nghiện ma túy, cả hai có sử dụng ma túy cùng nhau khoảng 05 đến 06 lần. Vào khoảng 18 giờ ngày 08/11/2023, Đàm Văn L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84F8-2149 đến nhà của Trần Hoàng H1 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để chơi và uống rượu đến khoảng 22 giờ, do H1 nói sáng hôm sau (ngày 09/11/2023) nghỉ làm chở con đi khám bệnh nên H1 nhìn L1 và L1 hiểu, mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Do từng sống ở huyện P và có quen biết với Trần Thiện T, H1 có mua ma túy của T 01 lần vào khoảng 05 ngày đến 06 ngày trước. Do đó, khi có nhu cầu sử dụng ma túy cùng với L1, H1 sử dụng điện di động của H1 để gọi qua ứng dụng mạng xã hội Facebook cho Trần Thiện T để hỏi mua ma túy, T đồng ý. Sau đó, L1 điều khiển xe 84F8-2149 chở H1 qua đến cầu T thuộc xã N, huyện P cả hai dừng xe lại đổ xăng và mua thức ăn, L1 đưa cho H1 60.000 đồng để hùn mua ma túy. Tới điểm hẹn gặp T, H1 đưa cho T 200.000 đồng và

xuống xe để T điều khiển chở L1 đi đến nhà của người thanh niên tên C1, T vào mua 400.000 đồng tiền ma túy đá nhưng trả cho C1 370.000 đồng, T nợ lại 30.000 đồng nhưng C1 cho. Lấy ma túy xong L1 điều khiển xe chở T quay lại gặp H1 và đưa gói ma túy cho H1 cất giữ. Sau đó T kêu H1 và L1 cùng đến chòi ở vườn giữ sầu riêng của Trần Thanh P thuộc ấp T, xã T, huyện P để cùng sử dụng ma túy, T lấy ra dụng cụ sử dụng ma túy, H1 lấy gói ma túy đổ vào ống phễu (nỏ) một phần, phần còn lại H1 dùng quẹt gas đốt hàn kín lại cất giữ vào trong túi quần, cả 04 người cùng nhau sử dụng ma túy được khoảng 30 phút thì hết trong ống phễu. Lăm điều khiển xe chở H1 về, đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 09/11/2023 cả hai khi về đến đoạn đường thuộc ấp M, xã M, huyện P thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 351/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng K2, Công an thành phố C thì tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định có chữ ký của Trần Hoàng H1 và Đàm Văn L1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1806 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1314 gam.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, lời khai của Trần Hoàng H1, Đàm Văn L1, Trần Thiện T và Trần Thanh P phù hợp với nhau. H1, L1, T, P đều là đối tượng nghiện ma túy, nguồn gốc ma túy do H1, L1, T hùn tiền lại để mua chung phần ma túy 400.000 đồng, sau khi có ma túy T và H1 thống nhất tìm nơi vắng người để sử dụng, dụng cụ sử dụng ma túy là của T, H1 đổ ma túy mua chung vào phễu, phần còn dư H1 hàn lại và cất vào túi quần, sau khi sử dụng xong, H1 và L1 ra về (Bút lục số 197-198). Giữa 03 bị can và đối tượng P không thể hiện rõ bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của T, H1 không đủ căn cứ xem xét xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với Trần Thanh P có hành vi sử dụng ma túy cùng với T vào ngày 17/12/2023 và ngày 08/11/2023 cùng với T, H1 và L1 nên Công an thị trấn P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, Quyết định quản lý người sử dụng ma túy tại địa phương về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người tên C1 bán ma túy cho T là Nguyễn Quốc K1, sinh năm 2000 ngụ ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Quá trình làm việc K1 không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Trần Thiện T, hiện nay K1 đã bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) gói nilon hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu (là chất ma túy);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S A21S, gắn sim 0763921048 và sim 0566274867 của Trần Hoàng H1;
  • - T2 là 120.000 đồng của Trần Hoàng H1;
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 84F8-2149.

Vụ án thứ hai: Vào khoảng 08 giờ ngày 17/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Thiện T điện thoại cho người tên N (không rõ lai lịch) để mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng, được N đồng ý và T điều khiển xe mô tô biển số 65G1-091.64 chạy lại điểm hẹn là ven đường trước nhà nghỉ T3 thuộc ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ và lấy gói ma túy để trong gói thuốc lá hiệu JET, được đậy miếng dừa khô, rồi để lại 200.000 đồng. Sau khi lấy ma túy xong T đem về phòng ngủ cất giữ và điều khiển xe đến vườn chòi sầu riêng của Trần Thanh P ngụ ấp T, xã T, huyện P để cùng P sử dụng ma túy, sau khi sử dụng xong T về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T lấy gói ma túy mua được lúc sáng bỏ vào bên trong của bao nylon bọc bên ngoài chai trà xanh không độ, rồi để chai trà xanh ở baga xe mô tô biển số 65G1-091.64 đi vườn tưới cây xong thì rủ người bạn tên L2 cùng sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường I thuộc ấp N, xã N, huyện P thì bị lực lương Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Kết luận giám định số: 402/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K2, Công an thành phố C thì tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định có chữ ký của Trần Thiện T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1858 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1062 gam.

Đối với người tên N bán ma túy cho T thì không xác định được lai lịch nên chưa làm việc được Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Trần Thiện T, Trần Hoàng H1 và Đàm Văn L1 thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích mua ma túy về để cùng nhau sử dụng, trước khi sử dụng ma túy các bị cáo không bàn bạc, phân công vai trò cụ thể. Đối với bị cáo Trần Thiện T thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 09/11/2023 cùng với Trần Hoàng H1 và Đàm Văn L1 và vào ngày 17/12/2023 nên bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu (là chất ma túy);
  • - 01 (một) điện thoại Samsung M20 màu đen gắn sim số 0795911345;
  • - 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Reno màu xanh không gắn sim;
  • - Tiền Việt Nam 1.380.000 đồng;
  • - 01 (một) chai nhựa có nhãn hiệu trà xanh vị chanh không độ, có nắp màu xanh;
  • - 01 (một) quẹt gas màu vàng;
  • - 01 xe mô tô biển số 65G1 - 091.64 do Trần Thị Kim C2 (mẹ ruột của T) đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà C2.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSPĐ ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Trần Thiện T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật

Hình sự và truy tố các bị cáo Trần Hoàng H1, Đàm Văn L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

Bị cáo Trần Thiện T, Trần Hoàng H1 và Đàm Văn L1 khai nhận, các bị cáo nghiện ma túy nên hùn tiền mua ma túy để sử dụng chung. Các bị cáo nhận biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đàm Minh T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L1 vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, đơn chiếc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo T, H1 và L1 là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Vì vậy, cần được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo T, H1 và L1 có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS tuyên bị cáo T từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù giam; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS tuyên bị cáo H1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam và tuyên bị cáo L1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy:

  • - Số ma túy còn lại theo Kết luận số 351/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng K2, Công an thành phố C, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1314 gam; sim 0763921048 và sim 0566274867.
  • - Số ma túy còn lại theo Kết luận 402/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K2 - Công an thành phố C, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1062 gam; sim số 0795911345; 01 (một) chai nhựa có nhãn hiệu trà xanh vị chanh không độ, có nắp màu xanh và 01 (một) quẹt gas màu vàng.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S A21S; 01 (một) điện thoại Samsung M20 màu đen.

+ Trả lại cho Trần Hoàng H1 tiền Việt Nam là 120.000 đồng.

+ Trả lại cho Trần Thiện T: 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Reno, màu xanh không gắn sim; tiền Việt Nam 1.380.000 đồng.

+ Giao 01 (một) xe mô tô biển số 84F8-2149 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tổ tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo T, H1, L1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo T, H1, L1 tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định khoảng 18 giờ ngày 08/11/2023, Đàm Văn L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84F8-2149 đến nhà của Trần Hoàng H1 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để chơi và uống rượu. Sau đó H1 sử dụng điện di động để gọi qua ứng dụng mạng xã hội Facebook cho Trần Thiện T để hỏi mua ma túy, T đồng ý. Sau đó, L1 điều khiển xe 84F8-2149 chở H1 qua đến cầu T thuộc xã N, huyện P, Cần Thơ để mua ma túy. Lăm đưa cho H1 60.000 đồng để hùn mua ma túy, H1 đưa cho T 200.000 đồng, T điều khiển chở L1 đi đến nhà của người thanh niên tên C1, T vào mua 400.000 đồng tiền ma túy đá nhưng trả cho C1 370.000 đồng, T nợ lại 30.000 đồng nhưng C1 cho. Lấy ma túy xong L1 điều khiển xe chở T quay lại gặp H1 và đưa gói ma túy cho H1 cất giữ. Sau đó T kêu H1 và L1 cùng đến chòi ở vườn giữ sầu riêng của Trần Thanh P thuộc ấp T, xã T, huyện P để cùng sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma túy xong phần còn lại H1 dùng quẹt gas đốt hàn kín lại cất giữ vào trong túi quần. Sau đó, L1 điều khiển xe chở H1 về, đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 09/11/2023 cả hai khi về đến đoạn đường thuộc ấp M, xã M, huyện P thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 351/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng K2, Công an thành phố C thì tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định có chữ ký của Trần Hoàng H1 và Đàm Văn L1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1806 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1314 gam.

Vào khoảng 08 giờ ngày 17/12/2023, Trần Thiện T điện thoại cho người tên N để mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng, N đồng ý và T điều khiển xe mô tô biển số 65G1-091.64 chạy lại điểm hẹn là ven đường trước nhà nghỉ T3 thuộc ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ và lấy gói ma túy để trong gói thuốc lá hiệu JET, được đậy miếng dừa khô, rồi để lại 200.000 đồng. Sau khi lấy ma túy xong T đem về phòng ngủ cất giữ và điều khiển xe đến vườn chòi sầu riêng của Trần Thanh P ngụ ấp T, xã T, huyện P để cùng P sử dụng ma túy, sau

khi sử dụng xong T về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T lấy gói ma túy mua được lúc sáng bỏ vào bên trong của bao nylon bọc bên ngoài chai trà xanh không độ, rồi để chai trà xanh ở baga xe mô tô biển số 65G1-091.64 đi vườn tưới cây xong thì rủ người bạn tên L2 cùng sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường I thuộc ấp N, xã N, huyện P thì bị lực lương Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Kết luận giám định số: 402/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K2, Công an thành phố C thì tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định có chữ ký của Trần Thiện T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1858 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1062 gam.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Trần Thiện T, Trần Hoàng H1 và Đàm Văn L1 đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Nhà nước nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân trồng, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý. Bản thân các bị cáo T, H1, L1 nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, nhưng vì nghiện ma túy các bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Các bị cáo bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng. Bị cáo Trần Thiện T tàng trữ ma túy vào ngày 09/11/2023 và ngày 17/12/2023. Tang vật thu giữ được kết luận là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1806 gam và 0,1858 gam. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Trần Thiện T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và truy tố các bị cáo Trần Hoàng H1, Đàm Văn L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[4] Bản thân bị cáo T, H1, L1 tuổi đời còn rất trẻ nhưng lại nghiện ma túy. Trong vụ án, bị cáo T, H1, L1 có vai trò ngang nhau cùng hùn tiền để mua ma túy cùng sử dụng, bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma túy 02 lần vào ngày 09/11/2023 và ngày 17/12/2023 nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng. Do đó, mức hình phạt của bị cáo T sẽ cao hơn bị cáo H1 và bị cáo L1. Đối với bị cáo H1 và bị cáo L1 có vai trò ngang nhau nên mức hình phạt của các bị cáo sẽ ngang nhau để đảm bảo tính răn đe. Thiết nghĩ, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T, H1, L1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T, H1, L1 không có tình tiết tăng nặng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy ma túy.
  • - Đối với các điện thoại, sim số sử dụng để liên lạc mua ma túy, các vật dụng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với điện thoại di động, tiền của các bị cáo không liên quan đến vụ án cần trả cho các bị cáo.
  • - Đối với xe mô tô biển số 65G1 - 091.64 đã trả cho Trần Thị Kim C2.
  • - Đối với 01 xe mô tô biển số 84F8-2149, xe do ông Lê Văn K đứng tên chủ sở hữu, đã bán vào năm 2005 cho một người không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, khi bán không làm hợp đồng mua bán. Ông Đàm Minh T1 là cha ruột của Đàm Văn L1 khai nhận mua lại của người tên K có làm giấy tay, mục đích mua để sử dụng cho sinh hoạt gia đình. Lời khai của ông K và ông T1 không phù hợp với nhau nên không đủ căn cứ để xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ, xử lý sau.

[7] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

*Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thiện T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Thiện T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.

*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Hoàng H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2023.

*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đàm Văn L1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo T, H1, L1.

Về xử lý vật chứng:

*Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.

- Tịch thu tiêu hủy: gói niêm phong số 351/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng K2, Công an thành phố C, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1314 gam; gói niêm phong số 402/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K2 - Công an thành phố C, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1062 gam;

sim số 0763921048, sim số 0566274867 và sim số 0795911345; 01 (một) chai nhựa có nhãn hiệu trà xanh vị chanh không độ, có nắp màu xanh; 01 (một) quẹt gas màu vàng.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S A21S; 01 (một) điện thoại Samsung M20 màu đen.

+ Trả lại cho Trần Hoàng H1 tiền Việt Nam là 120.000 đồng (Một trăm hai mươi ngàn đồng).

+ Trả lại cho Trần Thiện T: 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Reno, màu xanh không gắn sim; tiền Việt Nam 1.380.000 đồng (Một triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng).

+ Giao 01 (một) xe mô tô biển số 84F8-2149 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thiện T, Trần Hoàng H1, Đàm Văn L1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

* Nơi nhận:

  • - VKSND H. Phong Điền;
  • - Thi hành án DS H. Phong Điền;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Phong Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thiện Thanh và đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger