TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày: 16-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Duân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Cường
Ông Nguyễn Duy Nhất
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
tham gia phiên tòa: Ông Bạch Nam Chu Lai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T. Tên gọi khác: Thừa. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 25/11/2002, tại: Huyện V, tỉnh Bình Định. Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Cha: Nguyễn Công T1 (sinh năm 1957). Mẹ: Nguyễn Thị Tuyết S (sinh năm 1963). Gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 06/02/2024 đến ngày 15/02/2024 – có mặt.
- Bị hại: Anh Bùi Trúc S1 – sinh năm: 2000, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: Bà Nguyễn Thị Hồng T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn H – sinh năm: 1981, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – có mặt.
- Những người làm chứng:
- Chị Y P – sinh năm: 1998, địa chỉ: A N, khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
- Ông Nguyễn Công T1 – sinh năm: 1957, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – có mặt.
- Anh Phan Công T3 – sinh năm: 1993, địa chỉ: A N, khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 29/9/2023, anh Bùi Trúc S1 (sinh năm 2000, ở thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định) đang nằm trong phòng trọ tại địa chỉ số A N thuộc khu phố Đ, thị trấn V thì nghe phía trước có tiếng người ồn ào, anh S1 bước ra xem thì thấy chị Y P (thường gọi là B, sinh năm 1998, thường trú xã Đ, huyện N, tỉnh Kom Tum) tạm trú tại nhà trọ nói trên đang nói chuyện với anh Nguyễn Ngọc T (sinh năm 2002, ở thôn V, xã V). Lúc này anh S1 nói với anh T: “Khuya rồi về đi, muốn gì mai lên nói”. Vừa nói xong, anh S1 dùng chân đạp 01 cái trúng vào hông và tay trái của anh T. Bị đánh, anh T nói với anh S1: “Tao với mày bạn bè, sao mày đạp tao”, anh S1 nói: “Ba, bốn phút nữa mày không đi mày mệt với tao”. Anh T định lao vào đánh nhau với anh S1 thì chị P đến can ngăn hai người lại rồi chị P cùng anh S1 đi vào nhà trọ. Vì thấy nhà trọ của anh S1 có nhiều người nên anh T không dám đi vào nhà trọ để đánh nhau với anh S1.
Vì tức giận việc anh S1 vô cớ đánh mình nên lúc này anh T nảy sinh ý định về nhà tìm lấy cái rựa quay lại chém anh S1 cho bõ tức. Anh T điều khiển xe mô tô biển số 77H1 – 0641 đi một mình về nhà tại thôn V, xã V. Tại đây, anh T tìm một lúc thì thấy cái rựa tại nhà bếp nên lấy cầm theo, một tay điều khiển xe mô tô lúc nãy, tay còn lại cầm rựa đến nhà trọ tìm đánh anh S1. Đến nơi, lúc này khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, anh T dựng xe mô tô trên vỉa hè cách nhà trọ khoảng 10 mét rồi cầm cái rựa đi bộ một mình vào trong nhà trọ, anh T tự mở cửa đi vào trong nhà từ phía sau nhà bếp theo hành lang từ sau ra trước nhìn vào các phòng buồng để tìm anh S1. Khi đi đến phòng buồng thứ hai, anh T nhìn vào thấy anh S1 đang nằm một mình trên tay cầm điện thoại di động nên đẩy cửa bước vào trong phòng, bước đến trước mặt anh S1 rồi dùng tay phải cầm nắm phần cán rựa nhắm vào vùng chân chém bừa từ trên xuống 03 đến 04 lần vào người anh S1, trúng 01 nhát vào vùng cẳng chân phải, 01 nhát vào vùng vai phải và 01 nhát trúng giữa ngón trỏ và ngón cái bàn tay phải gây thương tích cho anh S1 với tỷ lệ thương tích 10% theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y tỉnh B.
Chém xong, anh T cầm cái rựa đi ra đến tại cửa phòng buồng thì anh S1 từ phía sau lao đến đu lên dùng hai tay ôm vào vùng cổ anh T và kêu cứu. Anh T dùng tay hất anh S1 ra phía sau rồi đi ra theo lối vào lúc nãy ra ngoài điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến cầu Đ thuộc thôn A, xã V, huyện V, anh T thấy cái rựa mình cầm theo dính nhiều máu, sợ ba mẹ phát hiện nên anh T vứt cái rựa trên xuống sông rồi lái xe đi về nhà, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã nhiều lần truy tìm chiếc rựa nhưng không tìm ra nên không thu giữ được. Còn anh S1 ngay sau đó được mọi người trong nhà trọ đưa đến trung tâm y tế huyện V điều trị đến ngày 10/10/2023 thì ra viện.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự, anh Bùi Trúc S1 có Đơn yêu cầu bồi thường, yêu cầu Nguyễn Ngọc T bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 34.645.154,25 đồng. Đến nay, T chưa bồi thường được khoản nào.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Ngọc T không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nguyên nhân dẫn đến Nguyễn Ngọc T phạm tội là do trước đó anh Bùi Trúc S1 vô cớ đánh mình nên bị cáo Nguyễn Ngọc T dùng rựa chém anh S1 gây thương tích cho bõ tức.
Bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 09 – 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc T đồng ý bồi thường các khoản (Tiền thuốc điều trị tại Trung tâm y tế huyện V với số tiền 555.873 đồng (Theo hóa đơn bán hàng ngày 29/9/2023 của Trung tâm y tế huyện V); Tiền thuốc điều trị tại Trung tâm y tế huyện V với số tiền 189.281 đồng (Theo hóa đơn bán hàng ngày 10/10/2023 của Trung tâm y tế huyện V); Tiền công lao động trong thời gian điều trị thương tích tại Bệnh viện từ ngày 02/10/2023 – 10/10/2023 (09 ngày) x 250.000 đồng = 2.250.000 đồng; Tiền công lao động của người chăm sóc bị cáo T trong thời gian điều trị tại bệnh viện từ ngày 02/10/2023 – 10/10/2023 (09 ngày) x 300.000 đồng = 2.700.000 đồng; T1 thuê xe ô tô đi giám định thương tích từ V - Q và ngược lại vào ngày 27/10/2023 với số tiền 600.000 đồng; Tiền ngày công lao động của bị cáo T trong ngày đi giám định thương tích vào ngày 27/10/2023 với số tiền 250.000 đồng; Tiền khám bệnh theo chỉ định của bác sĩ phục vụ giám định thương tích vào ngày 27/10/2023 với số tiền 1.100.000 đồng (Theo phiếu thu biên lai số 46885 ngày 27/10/2023 của Phòng khám T5); Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm bị hại Bùi Trúc S1 yêu cầu bồi thường số tiền là 27.000.000 đồng tương đương với 15 tháng lương cơ sở (1.800.000 đồng/tháng).
Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận 10 tháng lương cơ sở tương đương với số tiền 18.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật; Tổng số tiền được chấp nhận 25.645.154,25 đồng mà bị hại Bùi Trúc S1 yêu cầu đồng thời xem xét giảm mức bồi thường do bị hại S1 cũng có một phần lỗi. Xét thấy, yêu cầu của bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 585 Bộ luật Dân sự “Bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”, phân chia mức độ lỗi giữa bị cáo và bị hại, bị cáo có 70%, bị hại có 30% lỗi, phải tự chịu trách nhiệm tương đương với số tiền 7.639.546 đồng.
Căn cứ các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho bị hại Bùi Trúc S1 số tiền: 25.645.154,25 đồng x 70% = 17.951.607 đồng.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và phần dân sự. Tuy nhiên, về phần hình phạt đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Ý kiến của bị cáo: Thống nhất theo nội dung bào chữa của trợ giúp pháp lý, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 03 giờ sáng ngày 29/9/2023, tại phòng trọ tại địa chỉ số A N thuộc khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định do bực tức việc ông Bùi Trúc S1 vô cớ đạp vào người mình nên Nguyễn Ngọc T đã thực hiện hành vi dùng một cái rựa là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích ở các vùng vai phải, bàn tay phải, cẳng chân phải của ông S1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 10%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về căn cứ quyết định hình phạt:
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Trong vụ án này, mặc dù là bị hại nhưng cũng có một phần lỗi, bị hại đã vô cớ đánh bị cáo, hành vi và lời nói, thái độ thách thức của bị hại là nguyên nhân dẫn đến vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Công an huyện V có hình thức xử phạt hành chính đối với Bùi Trúc S1 thể hiện sự công minh, công bằng của pháp luật.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc T đồng ý bồi thường các khoản (Tiền thuốc điều trị tại Trung tâm y tế huyện V với số tiền 555.873 đồng (Theo hóa đơn bán hàng ngày 29/9/2023 của Trung tâm y tế huyện V); Tiền thuốc điều trị tại Trung tâm y tế huyện V với số tiền 189.281 đồng (Theo hóa đơn bán hàng ngày 10/10/2023 của Trung tâm y tế huyện V); Tiền công lao động trong thời gian điều trị thương tích tại Bệnh viện từ ngày 02/10/2023 – 10/10/2023 (09 ngày) x 250.000 đồng = 2.250.000 đồng; Tiền công lao động của người chăm sóc bị cáo T trong thời gian điều trị tại bệnh viện từ ngày 02/10/2023 – 10/10/2023 (09 ngày) x 300.000 đồng = 2.700.000 đồng; T1 thuê xe ô tô đi giám định thương tích từ V - Q và ngược lại vào ngày 27/10/2023 với số tiền 600.000 đồng; Tiền ngày công lao động của bị cáo T trong ngày đi giám định thương tích vào ngày 27/10/2023 với số tiền 250.000 đồng; Tiền khám bệnh theo chỉ định của bác sĩ phục vụ giám định thương tích vào ngày 27/10/2023 với số tiền 1.100.000 đồng (Theo phiếu thu biên lai số 46885 ngày 27/10/2023 của Phòng khám T5); Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm bị hại Bùi Trúc S1 yêu cầu bồi thường số tiền là 27.000.000 đồng tương đương với 15 tháng lương cơ sở (1.800.000 đồng/tháng). Nhưng yêu cầu Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật.
Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận 10 tháng lương cơ sơ tương đương với số tiền 18.000.000 đồng; Tổng số tiền được chấp nhận 25.645.154,25 đồng mà bị hại Bùi Trúc S1 yêu cầu đồng thời xem xét giảm mức bồi thường do bị hại S1 cũng có một phần lỗi. Xét thấy, yêu cầu của bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 585 Bộ luật Dân sự “bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”, phân chia mức độ lỗi giữa bị cáo và bị hại, bị cáo có 70%, bị hại có 30% lỗi, phải tự chịu trách nhiệm tương đương với số tiền 7.639.546 đồng.
Căn cứ các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho bị hại Bùi Trúc S1 số tiền: 25.645.154,25 đồng x 70% = 17.951.607 đồng.
[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T là người bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 897.580 đồng (T4 trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nhưng bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch vì thuộc diện hộ cận nghèo năm 2024.
[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Kiến nghị: Cơ quan Công an huyện V có hình thức xử phạt hành chính đối với Bùi Trúc S1 theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Bùi Trúc S1 theo các khoản (Tiền thuốc điều trị; Tiền công lao động trong thời gian điều trị thương tích tại Bệnh viện; Tiền công lao động của người chăm sóc bị cáo T trong thời gian điều trị tại bệnh viện; Tiền thuê xe ô tô đi giám định thương tích từ V - Q và ngược lại; Tiền ngày công lao động của bị cáo T trong ngày đi giám định thương tích; Tiền khám bệnh theo chỉ định của bác sĩ phục vụ giám định thương tích; Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm) với tổng số tiền là 17.951.607 đồng (Mười bảy triệu, chín trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm lẻ bảy đồng).
- Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 897.580 đồng (T4 trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp vào ngân sách Nhà nước, nhưng bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí vì thuộc diện hộ cận nghèo năm 2024.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thanh Duân |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Thường phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS
