TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST | |
Ngày: 15/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hữu và ông Lê Xuân Tình
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Dung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng, Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 15 phút, ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 08/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Phạm Thiện Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 20/12/1985 tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Thiện N; Sinh năm 1954; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà Nguyễn Thị N1; Sinh năm 1952; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện đều sống tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Trần Thị Thu T; Sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
- + Ngày 15/5/2006, bị UBND tỉnh H ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 24 tháng, đã chấp hành xong;
- + Ngày 17/10/2011 bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “gây rối ”;
- + Ngày 06/02/2014, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 17/02/2014 Q đã nộp đủ tiền phạt.
- + Ngày 18/12/2014, bị Công an phường T, TP H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 19/12/2014 Q đã nộp đủ tiền phạt.
- + Ngày 12/02/2020, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 20/02/2020 Q đã nộp đủ tiền phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay, hiện đang trú tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm: 1975; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
- + Anh Vương Khả H, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- + Chị Trần Thị Thu T, sinh năm: 1986; Nơi cư trú; Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thiện Q là lao động tự do, sinh sống tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Trong quá trình sinh sống, Q sử dụng nguồn tiền của cá nhân để thực hiện hành vi cho vay lấy lãi suất cao. Khi có người có nhu cầu vay tiền, Q sẽ đưa ra mức thỏa thuận về lãi suất và thời hạn đóng tiền lãi hàng tháng, sau khi hai bên thống nhất thì Q sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của người vay. Với phương thức như trên, từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2023, Phạm Thiện Q đã cho anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1975 và anh Vương Khả H, sinh năm 1988, đều trú tại Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh vay tiền và thu lãi trái quy định, cụ thể như sau:
* Đối với anh Nguyễn Hữu T1:
Ngày 17/11/2022, anh Nguyễn Hữu T1 (tên thường gọi là T1 “H1”) có nhu cầu vay tiền để làm ăn nên đã nhờ anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (tên thường gọi là T1 “T2”) tìm người cho vay thì anh T1 (T2) hỏi Phạm Thiện Q và được Q đồng ý. Sau đó, anh T1 (T2) chở anh T1 (H1) đến nhà Q để hỏi vay. Khi đến nhà Q thì anh T1 (T2) đứng ngoài sân còn anh T1 (H1) đi vào phòng khách hỏi vay Q số tiền 70.000.000 đồng thì được Q đồng ý. Q đưa ra mức lãi suất là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày = 8.400.000 đồng/01 tháng (tương ứng với 12%/tháng; 144%/năm), tiền lãi trả vào ngày 17 dương lịch hàng tháng, lãi tính theo tháng 30 ngày, không kể tháng thiếu hay thừa ngày, tiền lãi sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của Q hoặc trả bằng tiền mặt.
Do đứng ở bên ngoài nên anh Nguyễn Hữu T1 (T2) không biết việc thỏa thuận số tiền vay và mức lãi suất cho vay giữa anh T1 (H1) và Phạm Thiện Q. Sau đó, anh T1 (T2) đi vào nhà hỏi vay Q 500.000 đồng thì Q đồng ý và nói sẽ chuyển tiền vay của cả hai người vào tài khoản của anh T1 (T2) để làm tin thì được cả hai đồng ý.
Tiếp đó, Phạm Thiện Q cắt lãi tháng đầu tiên với số tiền 8.400.000 đồng rồi mượn và sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0914803888 của vợ Q là chị Trần Thị Thu T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V số 9833601801 của anh Nguyễn Hữu T1 (T2) số tiền 62.100.000 đồng (gồm 61.600.000 đồng anh T1 (H1) vay và 500.000 đồng anh T1 (T2) vay). Sau đó, anh T1 (T2) đã chuyển số tiền 61.600.000 đồng qua tài khoản ngân hàng V số 1021605936 cho anh T1 (H1). Từ khi vay số tiền trên, anh Nguyễn Hữu T1 (H1) đã trả tiền lãi hàng tháng cho Phạm Thiện Q từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2023 tổng cộng 14 lần/14 tháng với tổng số tiền là 117.600.000 đồng (chưa trả tiền gốc). Số tiền Phạm Thiện Q thu lợi bất chính từ việc cho vay là 101.266.667 đồng.
* Đối với anh Vương Khả H: Quá trình điều tra, Phạm Thiện Q khai nhận và CQCSĐT Công an huyện T đã chứng minh được:
Ngày 19/6/2023, anh Vương Khả H đến gặp Phạm Thiện Q tại nhà Q ở xã T, huyện T để hỏi vay số tiền 30.000.000 đồng thì Q đồng ý. Q đưa ra mức lãi suất là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày = 3.600.000 đồng/01 tháng (tương ứng với 12%/tháng; 144%/năm), tiền lãi trả vào ngày 19 dương lịch hàng tháng, lãi tính theo tháng 30 ngày, không kể tháng thiếu hay thừa ngày. Sau khi thống nhất về số tiền vay và lãi suất nói trên thì Q trực tiếp cắt lãi tháng đầu tiên với số tiền 3.600.000 đồng rồi sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 19032945757019 mang tên Trần Thị Thu T (là tài khoản của vợ Q) chuyển đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh Vương Khả H số tiền 26.400.000 đồng và không viết giấy tờ gì. Các tháng tiếp theo, anh H đều trả đủ cho Q 3.600.000 đồng tiền lãi mỗi tháng thông qua tài khoản ngân hàng V số 0201000445725 mang tên Trần Thị Thu T (đây là tài khoản mang tên vợ của Q là chị Trần Thị Thu T nhưng do Q quản lý, sử dụng). Từ khi vay số tiền trên, anh H đã trả tiền lãi hàng tháng cho Q tổng cộng 07 lần/07 tháng với tổng số tiền 25.200.000 đồng.
Đến ngày 29/6/2023, anh Vương Khả H tiếp tục vay thêm của Phạm Thiện Q số tiền 25.000.000 đồng. Sau khi đã thống nhất với nhau về lãi của khoản vay này là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày = 3.000.000 đồng/01 tháng (tương ứng với 12%/tháng; 144%/năm), tiền lãi trả vào ngày 19 dương lịch hàng tháng, lãi tính theo tháng 30 ngày, không kể tháng thiếu hay thừa ngày. Q trực tiếp cắt lãi tháng đầu tiên với số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0201000445725 mang tên Trần Thị Thu T chuyển đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh Vương Khả H số tiền 22.000.000 đồng và cũng không viết giấy tờ gì. Các tháng tiếp theo, anh H đều trả đủ cho Q 3.000.000 đồng tiền lãi mỗi tháng thông qua tài khoản ngân hàng V số 0201000445725 mang tên Trần Thị Thu T. Từ khi vay số tiền trên, anh H đã trả tiền lãi hàng tháng cho Q tổng cộng 06 lần/06 tháng với tổng số tiền 18.000.000 đồng. Gộp cả 02 khoản vay thì
Phạm Thiện Q đã cho anh Vương Khả H vay tổng số tiền 55.000.000 đồng. Kể từ tháng 6/2023 đến tháng 12/2023, anh H đã trả tiền lãi cho Q tổng cộng 43.200.000 đồng (chưa trả tiền gốc). Số tiền Phạm Thiện Q thu lợi bất chính từ việc cho vay là 37.200.000 đồng.
Như vậy, Phạm Thiện Q đã cho anh Nguyễn Hữu T1 và anh Vương Khả H vay với lãi suất thỏa thuận là 4.000.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất là 12%/tháng và 144%/năm, vượt quá 5 lần (= 7,2 lần) mức lãi suất cao nhất được quy định Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính đối với hai người vay của Phạm Thiện Q là: 138.466.667 đồng.
* Vật chứng, đồ vật tạm giữ của vụ án gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354440891776817, số IMEI 2: 354440891845216, bên trong gắn thẻ sim Vinaphone số 0941.869.xxx có số seri 89840.20001.06222.50272 (do Phạm Thiện Q giao nộp khi đầu thú).
* Về trách nhiệm dân sự: Phạm Thiện Q đã trả lại cho anh Vương Khả H số tiền thu lợi bất chính từ khoản vay của anh H là 37.200.000 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Hữu T1 số tiền thu lợi bất chính từ khoản vay của anh T1 là 101.266.667 đồng. Anh Nguyễn Hữu T1 đã trả lại cho Phạm Thiện Q số tiền 70.000.000 đồng tiền gốc vay của Q; còn anh Vương Khả H chưa trả lại số tiền 55.000.000 đồng là tiền gốc vay của Q.
* Với hành vi trên, tại cáo trạng số 17/CT-VKS - TH, ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phạm Thiện Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thiện Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thiện Q từ 270.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a, b, khoản 1, Điều 47 BLHS; các điểm a, b, Khoản 2, Khoản 3, Điều 106 BLTTHS; Điều 5, Nghị Quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự:
- + Truy thu từ bị cáo Phạm Thiện Q để nộp NSNN số tiền 70.000.000 đồng là tiền gốc cho vay mà anh Nguyễn Hữu T1 đã trả lại cho bị cáo.
- + Truy thu từ bị cáo Phạm Thiện Q để nộp NSNN số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay, gồm 6.000.000 đồng từ khoản vay của anh Vương Khả H và 16.324.000 đồng từ khoản vay của anh Nguyễn Hữu T1, tổng bằng: 22.324.000 đồng.
- + Truy thu từ anh Vương Khả H số tiền 55.000.000 đồng, là số tiền gốc mà anh H đã vay của bị cáo Phạm Thiện Q nhưng chưa trả để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- + Tịch thu xử lý nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354440891776817, số IMEI 2: 354440891845216, bên trong gắn thẻ sim Vinaphone số 0941.869.xxx, là phương tiện bị cáo sử dụng để nhận tiền lãi trái quy định.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2, Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng đã nhận thức được lỗi lầm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì điều kiện hoàn cảnh của bị cáo có nhiều khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thiện Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2023, với mục đích cho vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, bị cáo Phạm Thiện Q đã sử dụng nguồn tiền cá nhân của mình cho anh Nguyễn Hữu T1 vay số tiền 70.000.000 đồng, với lãi suất 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày = 8.400.000 đồng/01 tháng (tương ứng với 12%/tháng; 144%/năm); cho anh Vương Khả H vay số tiền 55.000.000 đồng, với lãi suất 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày = 3.000.000 đồng/01 tháng (tương ứng 12%/tháng; 144%/năm); mức lãi suất bị cáo Phạm Thiện Q cho 2 người trên vay là vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS; thu lợi bất chính tổng số tiền 138.466.667 đồng, trong đó, thu lợi bất chính của anh Nguyễn Hữu T1 101.266.667 đồng; của anh Vương Khả H 37.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Thiện Q đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung “Thu lợi bất chính 100 triệu đồng trở lên”. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát huyện T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện hoàn trả tiền thu lợi bất chính cho người liên quan nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, người liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, xâm phạm lợi ích kinh tế của cá nhân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi khác nhau, lẽ ra cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các hành vi bị xử phạt hành chính trước đây đã khá lâu và không liên quan đến hoạt động cho vay lấy lãi. Mặt khác, bị cáo cho vay thu lãi suất cao đơn thuần, không có tính chất chuyên nghiệp hay hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm, xã hội đen; quá trình điều tra, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người vay và đấu thú về hành vi phạm tội của mình. Nên việc xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với loại tội phạm này được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354440891776817, số IMEI 2: 354440891845216, bên trong gắn thẻ sim Vinaphone số 0941.869.xxx do bị cáo Q giao nộp là phương tiện bị cáo sử dụng để nhận tiền lãi trái quy định nên cần căn cứ điểm a khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, khoản 2, Điều 106 BLTTHS tịch thu, xử lý nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 47 BLHS; các điểm b khoản 2, khoản 3, Điều 106 BLTTHS; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- + Đối với khoản tiền gốc 70.000.000 đồng mà bị cáo cho anh Nguyễn Hữu T1 vay, quá trình điều tra anh T1 đã trả lại cho bị cáo. Đây là số tiền sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần truy thu từ bị cáo Phạm Thiện Q để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 22.324.000 đồng (trong đó có 6.000.000 đồng nhận từ khoản vay của anh Vương Khả H và 16.324.000 đồng nhận từ khoản vay của anh Nguyễn Hữu T1) cần truy thu từ bị cáo Phạm Thiện Q để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với khoản tiền gốc 55.000.000 đồng mà bị cáo cho anh Vương Khả H vay nhưng anh H chưa trả, cần truy thu từ anh Vương Khả H để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- [6] Về án phí: Bị cáo Phạm Thiên Q1 bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35, điểm a, b, khoản 1, Điều 47 BLHS; các điểm a, b, khoản 2, khoản 3, Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2, Điều 136 BLTTHS; Điều 3, Điều 5 Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 BLHS; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thiện Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thiện Q số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác:
- - Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354440891776817, số IMEI 2: 354440891845216, bên trong gắn thẻ sim Vinaphone số 0941.869.xxx.
- - Truy thu từ bị cáo Phạm Thiện Q để nộp ngân sách Nhà nước số tiền 92.324.000 đồng (trong đó 70.000.000 đồng là tiền gốc cho vay mà anh Nguyễn Hữu T1 đã trả lại cho bị cáo và 22.324.000 đồng là số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS mà bị cáo đã thu của người vay tiền).
- - Truy thu từ anh Vương Khả H để nộp ngân sách Nhà nước số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) là số tiền gốc mà anh H đã vay của bị cáo nhưng chưa trả cho bị cáo.
- (Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà).
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thiện Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhân |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thiện Quang
