|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày: 14-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Pha.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử và bà Nguyễn Vũ Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Y Dung, Kiểm sát viên.
Vào ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 13/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 29/5/2024 đối với bị cáo:
Võ Tấn T, sinh ngày 07/12/2003 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 02/12; Cha: Võ Tấn S, sinh năm 1976 và mẹ: Hồ Thị Mỹ C, sinh năm 1978; A, chị, em: Có 01 anh, 01 em.
Tiền án: Ngày 13/01/2022, bị TAND huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo bản án số 15/2022/HSST, đã chấp hành xong ngày 30/5/2022.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 05/01/2021, bị Công an huyện L ra Quyết định số 10/QĐ-XPHC xử lý hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, phạt tiền 1.250.000đồng, đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Minh T1, Luật sư - Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Có mặt.
Bị hại: Ông Lê Chí H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Sỹ L, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 22/10/2023, Võ Tấn T thuê xe ô tô biển kiểm soát 78A-048.62 của anh Lê Chí H ở thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên và thỏa thuận thống nhất với giá 500.000 đồng/ngày. Anh H giao xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe để T tự lái, T điều khiển xe ô tô làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, T nảy sinh ý định đem xe ô tô của anh H đi thế chấp lấy tiền trả nợ. T điều khiển xe ô tô của anh H đến cửa hàng điện thoại Tô Vũ A ở thôn T, xã S, huyện S. Tại đây, T nói dối với anh Hồ Sỹ L “xe em mới mua chưa làm thủ tục sang tên được” và thế chấp xe ô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh L lấy 10.000.000 đồng sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân. Ngày 23/11/2023 anh H biết việc T đem xe ô tô của mình đi thế chấp nên anh H làm đơn gửi đến cơ quan chức năng.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS, ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện S kết luận: Xe ôtô biển kiểm soát 78A - 048.62 trị giá 72.000.000 đồng.
Về dân sự: Bị hại Lê Chí H yêu cầu bị cáo Võ Tấn T bồi thường 50.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Tạm giữ và trả lại cho Lê Chí H là chủ sở hữu xe ô tô biển số 78A-048.62.
Cáo trạng số: 14/CT-VKS-HS ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà truy tố Võ Tấn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Võ Tấn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà đã truy tố và khẳng định không bị oan, bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình. Bị cáo đã trực tiếp xin lỗi bị hại Lê Chí H và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Lê Chí H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về dân sự: bị hại giảm bớt một phần yêu cầu bồi thường (20.000.000 đồng), yêu cầu bị cáo phải bồi thường 30.000.000 đồng cho bị hại.
Kiểm sát viên tiến hành tố tụng tại phiên tòa sau khi phân tích mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Tấn T mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/3/2024.
- Dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự, Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuẩn của bị cáo và bị hại, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng.
- Vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo vì là bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo.
Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, bị cáo mồ côi cha mẹ từ nhỏ, thiếu sự giáo dục nên nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử mức hình phạt nhẹ hơn so với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án và tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.
[2] Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại vật chứng vụ án thu giữ được cùng các chứng cứ khác có tại hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: Sau khi Võ Tấn T thuê xe ô tô biển kiểm soát 78A - 048.62 của anh Lê Chí H để tự lái làm phương tiện đi lại. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 22/10/2023, do cần tiền trả nợ, T đem xe ô tô của anh H đến cửa hàng điện thoại Tô Vũ A ở thôn T, xã S, huyện S và thế chấp xe ô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trị giá 72.000.000 đồng cho anh Hồ sỹ L1 lấy 10.000.000 đồng dùng trả nợ và tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do đó cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải về việc làm của mình; bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử mức hình phạt nhẹ hơn so với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi cha mẹ từ nhỏ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận đề nghị của người bào chữa, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Dân sự: Áp dụng Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng.
[7] Vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xét.
[8] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo vì là bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Tấn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/3/2024.
- Dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo vì là bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Pha |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
