Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẮK

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 14/2024/HS-ST

Ngày 10 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chiu, bà Lê Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Ker Bkrông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Dương Văn H, sinh ngày 10/5/1990 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 10/12; con ông Dương Anh N (đã chết) và bà Đặng Thị B; bị cáo có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt).
  2. Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 07/5/1987 tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 04/12; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dung biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt).

- Bị hại: Anh Cơ Liêng Ha T, sinh năm 1996; địa chỉ: Buôn Y, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Y Sren P, sinh năm 1997; địa chỉ: Buôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Đỗ Văn L1, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Anh Dương Văn S, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Bà Phạm Thị A, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 28/02/2024, Dương Văn H đi đến khu vực buôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk để chặt lá cây về cho dê ăn thì nhìn thấy đàn dê gồm 06 con đang đi trên đường. H hỏi anh Y Sren P đang ngồi trước hiên nhà là “Dê của anh à”, anh Y S1 trả lời “Chắc là dê đi lạc, không biết của ai cả”. Nghe vậy, H thấy 06 con dê trên giống đàn dê của gia đình anh Cơ L2 Ha Thôn trú tại buôn Yang Kring, xã B, huyện L, vì H đã nhiều lần đến nhà hỏi mua dê. H đến nhà anh Cơ L2 Ha Thôn để xem dê có ở chuồng không thì gặp vợ anh C Liêng Ha Thôn là chị H Chem Liêng H2, H hỏi “Có dê không, bán cho con dê”, chị H C1 trả lời “Dê chưa về”. H nói “Dê nhà mày bị lạc rồi, tao thấy giống để nhà mày lắm, có gì gọi điện thoại cho tao”, H viết số điện thoại của mình trên thanh gỗ ở chuồng bò rồi về nhà.

Khoảng 06 giờ ngày 29/02/2024, H điều khiển xe chở theo lồng sắt đến nhà anh C Liêng Ha Thôn mục đích xem đã tìm thấy dê hay chưa thì biết được chưa tìm được dê. Sau đó, H đến nhà anh Y S1 thì thấy trong chuồng bò đang nhốt đàn dê của anh Cơ L2 Ha Thôn. H hỏi anh Y S1 “Dê của nhà anh à”, anh Y S1 nói “Dê người ta đi lạc nên tôi nhốt lại”. Lúc này, H nảy sinh ý định dùng thủ đoạn nói dối anh Y S1 là dê của mình đi lạc để xin nhận lại nhưng do trước đó H đã hỏi anh Y S1 về nguồn gốc của đàn dê, nếu nhận lại sẽ bị anh Y S1 nghi ngờ. Vì vậy, H điều khiển xe ra quán cà phê ở xã Y và gọi điện thoại cho Nguyễn Ngọc Q hỏi “Anh đang ở đâu vậy, em phát hiện ra mấy con dê đi lạc”, Q trả lời “Anh đang bắt dê ở trên đèo Y”, H nói “Em đang ngồi uống cà phê tại ngã tư Y xuống đây ngồi uống cà phê nói chuyện”. Sau khi Q mua được 02 con dê của chị H Urim Kmăn ở xã Y thì Q đến quán cà phê gặp H. Tại đây, H nói với Q “Có 06 con dê đi lạc ở buôn K, xã B hiện người dân đang giữ, dê đó không phải của họ, anh vào nhận dê của mình rồi anh em mình chở đi” thì Q đồng ý. H bàn với Q bắt hết hay bắt mấy con thì Q nói “Nếu bắt mấy con thì người ta nghi ngờ nên bắt hết 06 con dê luôn”. Sau khi bàn bạc, thống nhất với nhau thì HQ đi đến nhà anh Y S1. Trên đường đi, H nói Q bỏ tạm 02 con dê xuống cánh đồng thì Q nói chở đi để người ta nhìn thấy 02 con dê có đặc điểm giống các con dê kia để họ tin. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, HQ đến nhà anh Y S1, Q đi vào gặp anh Y S1 và nói “Dê của em đi lạc, anh cho em xin lại”, anh Y S1 nhìn về phía lồng sắt trên xe của Q thấy có 02 con dê cùng màu đen như 06 con dê đang nhốt trong chuồng nên tin tưởng và cho Q vào bắt. Sau đó, HQ cầm 06 bao tải vào bắt 06 con dê mang ra bỏ vào 02 lồng sắt trên 02 xe mô

tô. Q lấy 400.000 đồng đưa cho anh Y S1 để cảm ơn. QH chở dê sang huyện K để tiêu thụ. Q gọi điện cho anh Đỗ Văn L1 chủ quán dê Huyền T1 và anh Nguyễn Văn Đ chủ quán dê Hồng L3 để hỏi bán dê thì những người này đồng ý mua. QH bán cho quán D 04 con, giá 80.000 đồng/kg, được 5.360.000 đồng; bán cho quán D1 02 con, giá 45.000 đồng/kg, được 2.655.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an xã B xác minh và mời Dương Văn H, Nguyễn Ngọc Q lên làm việc thì HQ đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt 06 con dê của anh Cơ L2 Ha Thôn và chị H Chem Liêng H2, Công an xã B đã chuyển vụ việc cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xử lý theo quy định.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 27/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận giá trị 06 cá thể dê trên tương ứng với số tiền 5.310.000 đồng và các tài sản khác tại thời điểm ngày 29/02/2024 có giá trị tương ứng như sau:

  • - 01 xe môtô biển kiểm soát 20G1-178.10, số tiền 6.000.000 đồng.
  • - 01 xe môtô biển kiểm soát 47K1-307.00, số tiền 9.000.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15, số tiền 800.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A93, số tiền 2.000.000 đồng.
  • - 01 lồng sắt, kích thước (104x63x38)cm, bao quanh bằng lưới B40, phần nắp trên có kích thước (80x39)cm, số tiền 50.000 đồng.
  • - 01 lồng sắt, kích thước (90x60x40)cm, khung bao quanh bằng kim loại hình chữ nhật, phần nắp trên bao quanh bằng lưới B40 có kích thước (94x54)cm, số tiền 100.000 đồng.

Về vật chứng đã thu giữ và kết quả xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu giữ các vật chứng, gồm:

  • - 05 cá thể dê, tổng trọng lượng 92 kg là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình anh Cơ Liêng Ha T, Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Cơ L2 Ha Thôn là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - 01 cá thể dê anh Đỗ Văn L1 đã mua và giết thịt bán hết cho khách nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • - 02 cá thể dê Nguyễn Ngọc Q mua của chị H Urim Kmăn tại xã Y, huyện L. Sau khi mua thì Q đã lợi dụng đặc điểm của chúng để nói dối anh Y S1 nhằm mục đích chiếm đoạt đàn dê của anh Cơ Liêng Hà T2. Sau khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt được đàn dê, Q đã bán 02 cá thể dê này cho anh Dương Văn S được 3.040.000 đồng. Anh S đã giết thị bán cho khách hàng nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Việc QH sử dụng 02 cá thể dê này vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên truy thu 3.040.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 xe môtô biển kiểm soát 20G1-178.10 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1988, trú tại xóm Đ, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cho H mượn làm phương tiện đi lại, phục vụ việc làm ăn, buôn bán, việc H sử

dụng xe môtô trên thực hiện hành vi phạm tội anh K không biết, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh K là chủ sở hữu hợp pháp.

  • - 01 xe môtô biển kiểm soát 47K1-307.00 là tài sản của Nguyễn Ngọc Q và vợ là chị Phạm Thị A, việc Q sử dụng chiếc xe môtô trên vào việc thực hiện hành vi phạm tội thì chị A không biết nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe môtô, tương ứng với 4.500.000 đồng và trả lại ½ giá trị chiếc xe môtô tương ứng với số tiền 4.500.000 đồng cho chị Phạm Thị A.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A93; 01 lồng sắt, kích thước (104x63x38)cm, bao xung quanh bằng lưới B40, phần nắp trên có kích thước (80x39)cm; 01 lồng sắt, kích thước (90x60x40)cm, khung bao xung quanh bằng kim loại hình chữ nhật, phần nắp trên đan bằng lưới B40, kích thước (94x54)cm là tài sản thuộc quyền sở hữu của HQ sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 06 bao tải màu trắng, kích thước (40x80) cm, đã qua sử dụng, không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - Số tiền 400.000 đồng anh Y S1 đã tự nguyện nộp lại. Số tiền này bị cáo Q cho anh Y S1 để cảm ơn, đây là công cụ Q sử dụng để tạo lòng tin của anh Y S1 sau khi chiếm đoạt đàn dê của anh Cơ L2 Ha Thôn nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 400.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị cáo Dương Văn HNguyễn Ngọc Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đối với 01 cá thể dê bị giết thịt cho anh C Liêng Ha Thôn 8.000.000 đồng. Anh Cơ L2 Ha Thôn không yêu cầu bồi thuờng thêm về thiệt hại tài sản và đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  • - Bị cáo QH đã tự nguyện hoàn trả 1.170.000 đồng cho anh Đỗ Văn L1 và 5.360.000 đồng cho anh Nguyễn Văn Đ, anh L1 và anh Đ không yêu cầu bồi thuờng thêm về tài sản.
  • - Anh Dương Văn S đã mua của bị cáo QH 02 cá thể dê với số tiền 3.040.000 đồng và giết thịt bán cho khách thu về 3.430.000 đồng, anh S không yêu cầu bồi thường về tài sản.

Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Lắk giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của các bị cáo gây ra, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 30 tháng.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q từ 11 tháng đến 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 22 tháng đến 26 tháng.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk là đúng người, đúng tội, không oan sai. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập phản ánh trong hồ sơ vụ án, đủ có cơ sở xác định:

Khoảng 07 giờ ngày 29/02/2024, sau khi bàn bạc thống nhất thì Dương Văn HNguyễn Ngọc Q cùng nhau điều khiển 02 xe mô tô chở theo 02 lồng sắt cùng 02 con dê đến nhà anh Y Sren P tại buôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Mục đích lợi dụng đặc điểm của 02 con dê trên để lừa đảo chiếm đoạt 06 con dê của anh Cơ L2 Ha Thôn đi lạc mà anh Y S1 đang quản lý. Bị cáo QH đã nói dối 06 con dê, tổng trọng lượng 118 kg, trị giá 5.310.000 đồng mà anh Y S1 đang quản lý là dê của gia đình Q đi lạc. Anh Y S1 thấy hai con dê trong lồng sắt trên xe Q có đặc điểm tương tự với 06 con dê trong chuồng nên đã tin tưởng và đồng ý cho hai bị cáo mang dê đi. Sau đó, QH đã chở số dê này sang huyện K bán cho anh Đỗ Văn L1 và anh Nguyễn Văn Đ, rồi chia nhau số tiền thu được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng

thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Hành vi phạm tội của Dương Văn HNguyễn Ngọc Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù có đủ năng lực nhận thức, hiểu rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng hai bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội do coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt thích đáng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, nhằm mục đích phòng chống tội phạm.

[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau bàn bạc, thống nhất và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H là người khởi xướng, nảy sinh ý định phạm tội và rủ bị cáo Q tham gia. Bị cáo Q sau khi được H rủ đã đồng ý và tích cực cùng H thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H có vai trò chủ mưu, khởi xướng việc phạm tội nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Q.

[5] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại 8.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đều là lao động chính trong gia đình, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương nơi các bị cáo cư trú, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo các bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án:

  • - 05 cá thể dê thuộc quyền sở hữu anh C Liêng Ha Thôn, Cơ quan điều tra đã trả cho anh là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
  • - Đối với 02 cá thể dê các bị cáo dùng nói dối anh Sren P để chiếm đoạt 06 cá thể dê của anh Cơ L2 Ha Thôn, các bị cáo đã bán 02 cá thể dê này được 3.040.000 đồng nên cần truy thu 3.040.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 xe môtô biển kiểm soát 20G1-178.10 là tài sản của anh Nguyễn Văn K cho bị cáo H mượn, bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội anh K không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh K là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
  • - 01 xe môtô biển kiểm soát 47K1-307.00 là tài sản của Nguyễn Ngọc Q và chị Phạm Thị A, bị cáo Q sử dụng vào việc phạm tội chị A không biết nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe môtô, tương ứng với 4.500.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A93; 01 lồng sắt, kích thước (104x63x38)cm, bao xung quanh bằng lưới B40, phần nắp trên có kích thước (80x39)cm; 01 lồng sắt, kích thước (90x60x40)cm, khung

bao xung quanh bằng kim loại hình chữ nhật, phần nắp trên đan bằng lưới B40, kích thước (94x54)cm, đây là các công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • - Đối với 06 bao tải màu trắng, kích thước (40x80) cm, đã qua sử dụng là các công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 400.000 đồng anh Y S1 tự nguyện nộp lại, số tiền này bị cáo Q cho anh Y S1 để cảm ơn. Đây là công cụ bị cáo Q sử dụng để tạo lòng tin của anh Y S1 sau khi chiếm đoạt đàn dê của anh Cơ L2 Ha Thôn nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền này.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị cáo Dương Văn HNguyễn Ngọc Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đối với 01 cá thể dê bị giết thịt cho anh C Liêng Ha Thôn 8.000.000 đồng. Anh Cơ L2 Ha Thôn không yêu cầu bồi thường thêm về thiệt hại tài sản nên không đề cập giải quyết.
  • - Bị cáo QH đã tự nguyện hoàn trả 1.170.000 đồng cho anh Đỗ Văn L1 và 5.360.000 đồng cho anh Nguyễn Văn Đ, anh L1 và anh Đ không yêu cầu bồi thường về tài sản nên không đề cập giải quyết.
  • - Anh Dương Văn S mua của bị cáo QH 02 cá thể dê với số tiền 3.040.000 đồng, sau đó giết thịt bán cho khách thu về 3.430.000 đồng, anh S không yêu cầu bồi thường về tài sản nên không đề cập giải quyết.

[10] Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân huyện L đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Dương Văn H 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Nguyễn Ngọc Q 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T3) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; giao bị cáo Nguyễn Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân Xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả cho anh C Liêng Ha Thôn 05 cá thể dê, tổng trọng lượng 92 kg.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả cho anh Nguyễn Văn K 01 xe môtô biển kiểm soát 20G1-178.10.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe môtô biển kiểm soát 47K1-307.00, nhãn hiệu HONDA, sơn màu: Đen đỏ, số khung: RLHJA3811KY028278, số máy: JA38E0496059, dung tích xi lanh 109cm³ tương ứng số tiền 4.500.000 đồng đối với bị cáo Q.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15, số IMEI 1: 866493056122351, số IMEI 2: 866493056122344; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A93, số IMEI 1: 868057058556110, số IMEI 2: 868057058556102; 01 lồng sắt, kích thước (104x63x38)cm, bao xung quanh bằng lưới B40, phần nắp trên có kích thước (80x39)cm; 01 lồng sắt, kích thước (90x60x40)cm, khung bao xung quanh bằng kim loại hình chữ nhật, phần nắp trên đan bằng lưới B40, kích thước (94x54)cm.
  • - Tịch thu, tiêu hủy 06 bao tải màu trắng, kích thước (40x80) cm, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 400.000 đồng (Được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Điều tra viên Võ Quốc H3, Y Sren P, Trần Lương Quang V và được đóng dấu tròn của Công an xã B).
  • - Truy thu của bị cáo H và bị cáo Q 3.040.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Dương Văn H và bị cáo Nguyễn Ngọc Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Lắk;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Lắk;
  • - Chi cục THADS huyện Lắk;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn H và Nguyễn Ngọc Q phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger