|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 14/2025/HS-PT Ngày: 24-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân, ông Hồ Đức Quang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 141/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo:
Nguyễn Văn H; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02/02/1985, nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn T, con bà Lưu Thị H1 (đã chết); có vợ Lê Thị Q (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 31/8/2024 đến ngày 06/9/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; nghề nghiệp: Hưu trí; trú tại: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
Trong vụ án có 03 người làm chứng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 30/8/2024, Nguyễn Văn H, sinh năm 1985, trú tại thôn H, xã S, huyện H đến nhà anh Hồ Huy H2, sinh năm 1979, trú tại thôn L, xã S để uống rượu. Trong lúc uống rượu H nói với anh H2 bán lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Nouvo, BKS 84H1-255.05 cho mình, anh H2 đồng ý và bảo giá 7.000.000 đồng, Hiệp đồng Ý rồi tiếp tục ngồi uống rượu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày H mượn xe mô tô của anh H2 điều khiển chạy về nhà của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú cùng thôn (là bố đẻ của H) yêu cầu ông T đưa số tiền 7.000.000 đồng để mua xe mô tô, lúc này ông T đang đứng ở trước sân nói với H không có tiền, H đi vào nhà bếp lấy 01 con dao bầu, dài 33cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, đầu dao nhọn đi ra đe dọa, uy hiếp ông T phải đưa tiền cho mình, do ông T không chịu đưa tiền nên H dùng dao đánh nhiều cái vào khuỷu tay trái và mặt làm ông T bị gãy xương dưới cánh tay trái và sưng gò má bên trái. Đến khoảng 23 giờ 35 phút cùng ngày thấy ông T vẫn không chịu đưa tiền nên H dí dao vào cổ ông T, đồng thời sử dụng điện thoại ông T gọi qua ứng dụng zalo có hình ảnh cho ông Lưu Trọng N, sinh năm 1973, trú tại thôn K, xã S, huyện H (là cậu của H) nhằm mục đích để ông N thấy và nói ông T đưa tiền cho mình, nhưng ông N nói với H: “Say rồi thì ngủ đi, để cho cậu ngủ”, rồi ông N tắt máy. Sau đó H tiếp tục có lời nói đe dọa uy hiếp ông T phải đưa tiền nhưng ông T nói với H không có tiền, đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 31/8/2024 H tiếp tục dí dao vào cổ và gọi điện qua ứng dụng zalo cho ông N thấy để ông N nói ông T đưa tiền cho mình, nhưng ông N tắt máy không nói gì. Do sợ H đánh tiếp nên ông T bảo để đi vay tiền về đưa cho thì Hiệp đồng Ý. Ông T đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã S, huyện H (là con gái ông T) kể lại sự việc bị H dùng dao đánh yêu cầu đưa tiền mua xe mô tô. Ông T lấy chiếc ví ra nhờ chị H3 kiểm đếm bên trong có 6.000.000 đồng, chị H3 nói ông T về đưa cho hắn 5.000.000 đồng, giữ lại 1.000.000 đồng để phòng thân. Sau đó ông T lấy 5.000.000 đồng bỏ vào túi áo và cất dấu 1.000.000 đồng trong ví rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 01 giờ ngày 31/8/2024 khi ông T vừa về đến nhà thì H tiếp tục đe dọa, uy hiếp và dí dao vào cổ yêu cầu phải đưa tiền cho mình, do sợ H đánh tiếp nên ông T lấy số tiền 5.000.000 đồng đưa cho H rồi đi vào giường để ngủ. H đi theo sau yêu cầu đưa tiếp 2.000.000 đồng nhưng ông T nói với H giờ không còn tiền nữa, H tiếp tục chửi bới dùng tay giật đứt dây màn, dùng chân đá gãy chiếc quạt điện, sợ bị đánh tiếp nên ông T nói: “Giờ khuya rồi không biết vay ai, để sáng mai tao đi vay về đưa cho”, nghe vậy nên H dừng lại rồi cầm số tiền 5.000.000 đồng vừa chiếm đoạt được điều khiển xe mô tô đi ra chợ mua 800.000 đồng tiền mồi đưa đến nhà anh Hồ Huy H2 tiếp tục uống rượu, rồi trả cho anh H2 số tiền mua xe 4.200.000 đồng (anh H2 không biết số tiền do H chiếm đoạt của ông T). Đến khoảng 4 giờ ngày 31/8/2024 H quay về nhà ngủ. Còn ông Nguyễn Văn T sau khi H rời đi do sợ H quay về đánh tiếp nên đi bộ ra ruộng ngô trước cửa nhà nằm trốn đến sáng.
Hậu quả ông T bị gãy khuỷu tay trái và được người nhà đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện H từ ngày 31/8/2024, sau đó chuyển đến Bệnh viện chấn thương chỉnh hình tỉnh N điều trị đến ngày 09/9/2024 thì chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N điều trị đến ngày 25/9/2024 thì vết thương ổn định ra viện về nhà điều trị.
Đối với số tiền 4.200.000 đồng ngày hôm sau anh Hồ Huy H2 biết là do Nguyễn Văn H chiếm đoạt của ông T nên đã trả lại cho H và không bán xe mô tô cho H nữa.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 001925/2024/GCT ngày 16/9/2024 của Bệnh viện C xác định tình trạng bệnh nhân Nguyễn Văn T trước lúc nhập viện: Sưng đau, gò má trái. Sưng nề, biến dạng cánh tay, khuỷu tay, tay trái.
Tại giấy chứng nhận thương tích số [...] ngày 04/10/2024 của Bệnh viện H xác định tình trạng bệnh nhân Nguyễn Văn T trước lúc nhập viện: Gãy trên lồi cầu cánh tay trái 02 tuần.
Theo kết luận giám định số 321/KLTTCT-TTPY& GĐYK ngày 14/10/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định: Gãy trên lồi cầu cánh tay trái đã phẫu thuật kết hợp xương. Tỷ lệ TTCT là 23%. Mặt sau khuỷu tay trái sẹo phẫu thuật kích thước trung bình. Tỷ lệ TTCT là 2%.
Áp dụng phương pháp cộng lùi tại Thông tư, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 25%. Chấn thương do vật tày tác động vào gây nên.
* Vật chứng thu giữ chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, gồm:
- - 01 con dao, loại dao bầu bản dày, dài 33cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 21cm, một bề sắc, đầu dao nhọn, chỗ rộng nhất khoảng 06cm; cán bằng gỗ dài khoảng 12cm. Dao đã qua sử dụng.
- - 01 con dao dài 74cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, chỗ rộng nhất khoảng 06cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 44cm, đường kính khoảng 03cm, dao đã qua sử dụng. Thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở Nguyễn Văn H.
* Vật chứng thu giữ đã trả lại cho chủ sở hữu gồm: Số tiền 4.200.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu tím đen, số seri: ef7dd1bb, bên trong gắn thẻ sim số 0366.396.620. Điện thoại đã qua sử dụng. Đã trả lại cho bị hại ông Nguyễn Văn T.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Về hình phạt chính: Áp dụng: điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm e khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 năm 06 tháng (chín năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 31/8/2024.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/12/2024, bị hại ông Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Kháng cáo của bị hại trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H không có kháng cáo mà chỉ có bị hại Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để mua xe mô tô nên vào khoảng 23 giờ ngày 30/8/2024, Nguyễn Văn H, trú tại thôn H, xã S, huyện H đã dùng dao đe dọa, uy hiếp và đánh gãy khuỷu tay trái của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú cùng thôn (là bố đẻ của H) với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25% để yêu cầu ông T phải đưa số tiền 7.000.000 đồng cho H, nhưng ông T bảo không có tiền để đi vay đã nên Hiệp đồng Ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 31/8/2024 khi ông Nguyễn Văn T vừa quay về nhà thì H tiếp tục chửi bới, uy hiếp, đồng thời dí dao vào cổ yêu cầu ông T phải đưa tiền, do sợ bị H đánh tiếp nên buộc ông T phải đưa cho H số tiền 5.000.000 đồng, sau đó H tiếp tục chửi bới, uy hiếp yêu cầu ông T đưa tiếp 2.000.000 đồng, nhưng ông T nói với H ngày mai sẽ đi vay tiền về đưa cho nên H mới dừng lại. Số tiền chiếm đoạt được H đã tiêu xài cá nhân hết 800.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng dao đánh gãy khuỷu tay trái và đánh vào mặt ông T để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để phục vụ mục đích cá nhân của mình bị cáo vẫn thực hiện, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Với số tiền bị cáo chiếm đoạt được của bị hại là 5.000.000 đồng, gây thương tích cho ông T 25%; bị cáo đã sử dụng hung khí, là con dao gây thương tích cho bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét nội dung kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Nguyễn Văn H có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích cá nhân mà bị cáo cố ý phạm tội. Quá trình xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: Bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và có ông nội Nguyễn Văn L là liệt sỹ. Vì vậy, hình phạt 09 năm 06 tháng (chín năm sáu tháng) tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại ông Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Xét thấy, bị cáo là con đẻ của bị hại và có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thực sự ăn năn hối cải, ân hận với hành vi trái pháp luật, trái với luân thường đạo lý đã gây ra cho chính bố đẻ của mình. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[5] Về biện pháp tư pháp: Tại phần nhận định [2.6] cũng như phần quyết định (3.) của bản án sơ thẩm đã quyết định “Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Văn H”.
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy: Sau khi bị cáo đe dọa bị hại ông Nguyễn Văn T lấy số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo cầm số tiền vừa chiếm đoạt được đi chợ mua 800.000 đồng tiền mồi đưa đến nhà anh Hồ Huy H2 tiếp tục uống rượu và trả cho anh Hồ Huy H2 tiền mua xe mô tô 4.200.000 đồng (anh H2 không biết số tiền này do bị cáo chiếm đoạt của bị hại ông Nguyễn Văn T). Ngày hôm sau, anh Hồ Huy H2 biết số tiền này do bị cáo chiếm đoạt của ông T nên trả lại tiền và không bán xe mô tô cho bị cáo H nữa. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại ông Nguyễn Văn T số tiền 4.200.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm ông T không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn thiếu là 800.000 đồng. Tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự quy định: “Đối với vật, tiền người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp”.
Bị cáo, bị hại tuy không kháng cáo về việc truy thu này, nhưng Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án này, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng, cấp sơ thẩm tuyên truy thu ở bị cáo H số tiền 800.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước là chưa đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, cấp sơ thẩm không được tuyên truy thu số tiền đó mà ghi nhận ý kiến của bị hại trong bản án và không áp dụng Biện pháp tư pháp truy thu số tiền 800.000 đồng đối với bị cáo H nên cấp phúc thẩm cần phải sửa phần quyết định về biện pháp tư pháp (3.) của Bản án sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c, d Khoản 2 Điều 168; điểm e Khoản 1 Điều 52, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 31/8/2024.
3. Về biện pháp tư pháp: Không truy thu số tiền 800.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Văn H.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn H, bị hại ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Thư |
Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về cướp tài sản
- Số bản án: 14/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội cướp tài sản
