Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27-9-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Cường
  2. Ông Phan Tấn Lãm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Hoa – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST –HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Mong Thị K, sinh năm 2000; Địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Có đơn xin giải quyết vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Bùi Ngọc C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện nguyên đơn bà Mong Thị K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với ông Bùi Ngọc C là vợ chồng hợp pháp theo giấy chứng nhận kết hôn số 37 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước ngày 28/4/20116/7/2018. Chúng tôi kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, trong quá trình chung sống chúng tôi sống không hạnh phúc, thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông C thường xuyên rượu chè, cờ bạc, đánh đập vợ con, chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Chính vì vậy, tôi nhận thấy tình trạng hôn nhân đã rất trầm trọng, cuộc sống hôn nhân của chúng tôi chỉ tồn tại về mặt pháp luật, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nay tôi yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Bùi Ngọc C.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình chung sống tôi với ông C có 01 người con chung là cháu Bùi Ngọc Hải D, sinh ngày 10/6/2018. Khi ly hôn tôi yêu cầu giao người con chung cho ông C trực tiếp nuôi con chung cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Bùi Ngọc C:

Trong quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, ông C đều vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • Về thụ lý, phân công thẩm phán; xác định tư cách tham gia tố tụng; xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; thủ tục công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 28, 35, 39, 68, 93, 97, 195, 196, 197, 205, 208, 209 của BLTTDS.
  • Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết: Căn cứ các Điều 28, 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 38, 51, 56, 58, 59, 62 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Giao người con chung Bùi Ngọc Hải D, sinh ngày 10/6/2018 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:

Xét thấy, đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, do nguyên đơn bà Mong Thị K thực hiện quyền khởi kiện; bị đơn ông Bùi Ngọc C hiện đang cư trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập.

[2]. Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Bị đơn ông Bùi Ngọc C đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung tranh chấp:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà K và ông C tự nguyên chung sống với nhau từ năm 2018 có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 37 tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước ngày 16/7/2018. Như vậy hôn nhân giữa bà K và ông C là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình.

Bà K có yêu cầu được ly hôn với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách vợ chồng có nhiều điểm không hợp nhau, sự khác biệt về lối sống. Trong quá trình hôn nhân vợ chồng không có tiếng nói chung, ông C thường xuyên rượu chè, cờ bạc, đánh đập vợ con, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn trở nên gay gắt, cả hai người đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Cuộc sống gia đình vì thế rơi vào tình trạng căng thẳng kéo dài, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như công việc của cả hai bên. Như vậy, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình không đạt được. Vì vậy, mâu thuẫn gia đình đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu của bà K được ly hôn với ông C là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình

* Về con chung: Bà K, ông C có 01 người con chung là cháu Bùi Ngọc Hải D, sinh ngày 10/6/2018, khi ly hôn bà K yêu cầu giao người con chung cho ông C trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất và tinh thần, hiện nay ông C không có mặt tại địa phương không thể trực tiếp nuôi con chung. Vì vậy, cần giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét do đương sự không có yêu cầu

* Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn bà K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điểm b, khoản 1 Điều 228; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; các điều 57, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mong Thị Kim .

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mong Thị K được ly hôn ông Bùi Ngọc C.

Quan hệ hôn nhân giữa bà K, ông C chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: Giao người con chung là Bùi Ngọc Hải D, sinh ngày 10/6/2018 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.

1.4. Về án phí:

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Mong Thị Kim P chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà K đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008045 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

2. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THA huyện Bù Gia Mập;
  • - UBND xã Bù Gia Mập;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger