TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 14/2024/HNGĐ - ST Ngày 10/9/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Hà
2. Ông Nguyễn Trung Thọ
Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thái Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST - HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vàng Thị S, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 12/5/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Vương Văn K, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 31/3/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Về quan hệ hôn nhân
Trong đơn khởi kiện ngày 19/4/2024, bản tự khai ngày 15/5/2024 nguyên đơn chị Vàng Thị S trình bày: Chị Vàng Thị S và anh Vương Văn K kết hôn với nhau ngày 18/01/2013 trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2018 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không bảo ban nhau được trong việc làm ăn, anh K thường xuyên say rượu không quan tâm đến gia đình. Chị S đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không có kết quả, mỗi lần góp ý, khuyên bảo là vợ chồng xảy ra cãi vã, xúc phạm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị S nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, vì vậy chị S đề nghị Toà án giải quyết cho chị S được ly hôn với anh K.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/7/2024 anh Vương Văn K trình bày: Anh K và chị Vàng Thị S kết hôn với nhau từ ngày 18/01/2013, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và tổ chức đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thỉnh thoảng anh K có uống rượu say về nhà vợ chồng có lời nói xúc phạm đến nhau, không bảo ban nhau được trong việc làm ăn. Mâu thuẫn vợ chồng cũng đã được hai bên gia đình hòa giải, vợ chồng cùng nhau cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhau khoảng 02 - 03 tháng nay sống không còn quan tâm đến nhau, đến nay anh K nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn và mong muốn chị S quay về để vợ chồng cùng nhau chung sống nuôi dạy con cái, nếu chị S vẫn một mực đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh K cũng nhất trí ly hôn.
2. Về con chung:
Chị Vàng Thị S trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung, cháu Vương Văn T, sinh ngày 19/3/2013 và cháu Vương Thanh T1, sinh ngày 07/11/2016. Khi ly hôn chị S đề nghị tòa án giải quyết cho chị S là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu T và T1, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Vương Văn K trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung, cháu Vương Văn T, sinh ngày 19/3/2013 và cháu Vương Thanh T1, sinh ngày 07/11/2016. Hiện nay cả hai cháu đang ở với chị S. Khi ly hôn anh K đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con, con ở với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề về cấp dưỡng nuôi con.
Cháu Vương Thanh T1 và cháu Vương Văn T đều có nguyện vọng được ở với mẹ.
3. Về phần tài sản, công nợ: Cả chị S và anh K đều trình bày: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 12/7/2024 đại diện Ủy ban nhân dân xã B cho biết: Sau khi kết hôn anh K và chị S chung sống cùng với bố mẹ chồng tại thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống giữa chị S và anh K hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2018 hai vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh K thường xuyên say rượu, không chịu khó làm ăn dẫn đến xảy ra cãi, xúc phạm đến nhau, không bảo ban được nhau, hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần, thôn xóm cũng khuyên bảo nhưng không có kết quả. Anh K và chị S không còn quan tâm đến nhau và đã sống ly thân nhau từ tháng 4/2024 cho đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71,72, 96 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56; các Điều 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Vàng Thị S, giao cháu Vương Văn T, sinh ngày 19/3/2013 và cháu Vương Thanh T1, sinh ngày 07/11/2016 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con; về phần tài sản công nợ không xem xét đến và buộc đương sự phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh K và việc nuôi con chung của vợ chồng. Do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và bị đơn anh Vương Văn K cư trú tại thôn T, xã B, huyện Q nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quang Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh K đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị S và anh Vương Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh K là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng cả chị S, anh K, đại diện chính quyền địa phương đều khẳng định quá trình chung sống chị S và anh K đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh K thường xuyên say rượu, dẫn đến vợ chồng không bảo ban nhau được trong cuộc sống, thường xuyên xúc phạm đến nhau, chị S và anh K đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau. Anh K nhận thấy anh vẫn còn tình cảm với chị S, mong chị S quay về đoàn tụ, tiếp tục cùng nhau chung sống, nếu chị S quyết tâm ly hôn thì anh K nhất trí ly hôn. Chị S khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục cùng nhau chung sống. Như vậy đã đủ cơ sở để kết luận quá trình chung sống giữa chị S và anh K đã phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị S đề nghị được ly hôn với anh K là có căn cứ, đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị S có nguyện vọng được nuôi con. Anh K đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con, con ở với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng. Các cháu T và T1 đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị S khẳng định hiện nay điều kiện kinh tế của chị đủ để đảm bảo được cuộc sống của con. Vì vậy nguyện vọng được nuôi con sau khi ly hôn của chị S là để đảm bảo mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên. Đề nghị được nuôi con của chị S là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Chị S không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[6] Về tài sản, công nợ: Chị S, anh K đều trình bày vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[7] Về án phí: Chị Vàng Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị S ly hôn với anh Vương Văn K.
* Về con chung: Chị Vàng Thị S là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vương Văn T, sinh ngày 19/3/2013 và cháu Vương Thanh T1, sinh ngày 07/11/2016, cho đến khi các cháu T, T1 đủ 18 tuổi. Anh Vương Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
* Về án phí: Chị Vàng Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002317 ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hải Phương |
Bản án số 14/2024/HNGĐ - ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Thị Sương - Vương Văn Khương ly hôn
