Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 12-11 -2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi

con, chia tài sản chung"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan

Các Thẩm phán:

  1. Ông Ngô Đê
  2. Bà Ngô Thị Kim Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.

Công chức Toà án hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến tại điểm cầu thành phần Toà án nhân dân huyện C: Ông Trần Khánh Duy – Thư ký của Toà án nhân dân huyện C.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại hai điểm cầu: điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số 21/2024/TLPT–HNGĐ, ngày 17/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 11/7/2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐ-PT, ngày 25/10/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy K, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Anh Võ Văn D1, sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Võ Hùng H, Luật sư thuộc Văn Phòng L, Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt)

- Người kháng cáo: Anh Võ Văn D1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thúy K trình bày:

Chị và anh Võ Văn D1 tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1993 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào năm 2008, sau ngày cưới anh D1 đi làm thuê, làm thợ hồ, còn chị thì làm nội trợ. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là anh D1 có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị đã nhiều lần tha thứ nhưng anh D1 không thay đổi, nay chị K cho rằng không còn tình cảm với anh D1, nếu tiếp tục sống chung không hạnh phúc, nên yêu cầu ly hôn anh Võ Văn D1.

Về con chung: Chị K khai vợ chồng chị có 03 người con gồm: Võ Minh C, sinh ngày 22/6/1995, Võ Minh T, sinh ngày 24/10/1997 và Võ Thị Ngọc H1, sinh ngày 10/3/2008. Khi ly hôn chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi Ngọc H1 và yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng kể từ ngày hôm nay cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Riêng cháu C và cháu T đã trưởng thành, nên không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thúy K trình bày vợ chồng chị đã tạo lập được diện tích 4.144m² (thực đo 3.805m²), tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và trên đất có một căn nhà. Khi ly hôn chị K yêu cầu được hưởng ½ diện tích thửa đất 2247, diện tích 4.144m² (thực đo 3.805m²), tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh bằng 1.902,5m² và ½ căn nhà trên đất có giá trị là 89.414.083đồng. Chị K yêu cầu được hưởng bên có căn nhà chính, còn bên có mái che làm nhà nấu ăn thì giao cho anh D1. Nếu hiện vật chị quản lý nhiều hơn anh D1 thì chị K đồng ý hoàn giá trị chênh lệch lại cho anh D1.

- Còn về nợ chung thì Tòa án đã giải quyết xong, nên không còn nợ chung.

Bị đơn anh Võ Văn D1 trình bày:

Anh thống nhất trình bày của chị Trần Thị Thúy K về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Nay vợ chồng anh sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, không thể chung sống nhau được nữa, nên anh D1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Trần Thị Thúy K; Về con chung: Khi ly hôn anh đồng ý giao Ngọc H1 cho chị K nuôi dưỡng. Anh D1 đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu H1 mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi; Về tài sản chung: Anh D1 đồng ý chia tài sản chung theo yêu cầu của chị K, mỗi người hưởng ½ diện tích thửa đất 2247, diện tích thực đo 3.805m², tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh bằng 1.902,5m² và ½ căn nhà trên đất có giá trị là 89.414.083đồng. Nhưng anh D1 yêu cầu được hưởng bên có căn nhà chính. Nếu anh hưởng nhiều hơn chị K thì anh D1 đồng ý hoàn giá trị chênh lệch lại cho K; về nợ chung thì Tòa án đã giải quyết xong, nên không còn nợ chung.

2

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 11/7/2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thúy K đối với ông Võ Văn D1.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Thúy K và anh Võ Văn D1.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Trần Thị Thúy K và anh Võ Văn D1 giao cháu Võ Thị Ngọc H1, sinh ngày 10/3/2008 cho chị Trần Thị Thúy K được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Trần Thị Thúy K và anh Võ Văn D1 là anh Võ Văn D1 cấp dưỡng nuôi cháu Võ Thị Ngọc H1, sinh ngày 10/3/2008 mỗi tháng 2.000.000đồng kể từ ngày 11/1/2024 cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung:

Chị Trần Thị Thúy K được hưởng các tài sản sau: Diện tích 1.697m², loại đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa 2247 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, có sơ đồ tứ cận kèm theo là phần B của sơ đồ khu đất:

Nhà ở chính diện tích 54,6m²; nhà ở phía sau thuộc nhà chính diện tích 31,92m²; Mái che phía trước thuộc nhà chính diện tích 8,74m², Diện tích 14, 95m²; Nền phía trước thuộc nhà chính diện tích 41,2m² (thuộc phần b1 được ký hiệu trên sơ đồ khu đất).

Anh Võ Văn D1 được hưởng các tài sản sau: Diện tích 2.108m², loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 2247 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, có sơ đồ tứ cận kèm theo là phần A của sơ đồ khu đất:

Mái che lợp tole diện tích 22,23m², diện tích 5,64m²; nền láng xi măng diện tích 22,23m², diện tích 5,64m²; Nhà vệ sinh diện tích 4,26m². Nhà sau diện tích 29,64m². Hồ nước thể tích 3,06m³ (thuộc phần b2 được ký hiệu trên sơ đồ khu đất).

Chị Trần Thị Thúy K có nghĩa vụ trả giá trị chênh lệch cho anh Võ Văn D1 số tiền 12.091.709 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu lãi do chậm trả, chi phí thẩm định, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 24/7/2024 anh Võ Văn D1 kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Anh D1 yêu cầu cho anh được hưởng căn nhà chính và phần đất gắn liền với căn nhà (phần B) diện tích 1.697m² thuộc một phần thửa 2247, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Anh đồng ý giao cho chị K phần nhà phụ (phần A) diện tích 2.108m²

3

thuộc một phần thửa 2247, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận cho hai bên hoán đổi vị trí đất, nhằm đảm bảo việc sử dụng đất, tránh trường hợp tranh chấp liên quan đến việc mở lối đi. Hơn nửa, nguồn gốc đất cũng là tài sản cha mẹ ông D1 cho, nên giao phần B cho ông D1 để đảm bảo phần lối đi ra đường công cộng của cha mẹ ông D1 là hợp lý.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, kháng cáo của anh D1 không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên trên phần đất giao cho chị K có phần lối đi của cha mẹ anh D1, do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 11/7/2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, về phần tuyên án, giành quyền về lối đi cho cha mẹ anh D1 một cách phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung, do bị đơn và tài sản tranh chấp tọa lạc tại huyện C, tỉnh Trà Vinh nên Tòa án nhân dân huyện C giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Chị Trần Thị Thúy K và anh Võ Văn D1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị K yêu cầu ly hôn, quá trình giải quyết chị K và anh D1 đã tự thỏa thuận được về quan hệ hôn nhân, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án sơ thẩm ghi nhận tự thỏa thuận của các bên là phù hợp, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, phần này có hiệu lực pháp luật.

4

[3] Xét đơn kháng cáo của anh Võ Văn D1: Yêu cầu được nhận phần đất gắn liền với căn nhà chính, giao nhà phụ và phần đất gắn liền với nhà phụ cho chị K.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Thúy K và anh Võ Văn D1 thống nhất tài sản chung gồm diện tích thực đo 3.805m², thửa số 2247 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, trên đất có nhà và công trình phụ gắn liền với đất. Chị K và anh D1 đều thống nhất thửa đất và các tài sản trên đất sẽ chia đôi, ai nhận phần hơn sẽ trả lại phần chênh lệch cho bên còn lại, nên Tòa án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận này của chị K và anh D1.

[5] Tòa sơ thẩm xác định chị K là phụ nữ, còn phải nuôi con, nên có nhu cầu sử dụng căn nhà hơn anh D1, ngoài căn nhà này chị K không còn chổ ở nào khác, nên quyết định giao căn nhà chính và các tài sản gắn liền với diện tích 1.697m² giao cho chị K sở hữu, sử dụng là có căn cứ. Tuy nhiên, trên phần đất giao cho chị K đã có hình thành bờ đi hiện hữu của cha mẹ anh D1, trong khi nguồn gốc đất có một phần của cha mẹ anh D1 tặng cho vợ chồng anh D1, chị K khi còn chung sống. Do đó cần buộc chị K không được cản trở việc đi lại của cha mẹ anh D1 trên bờ đi hiện hữu và những người đi trên đất cũng không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của chị K. Trường hợp có phát sinh tranh chấp liên quan đến việc mở lối đi hoặc bồi thường thiệt hại do việc đi trên đất thì được khởi kiện bằng một vụ án khác.

[6] Tòa sơ thẩm có sai sót trong tính toán giá trị tài sản phân chia cụ thể:

Phần chị K được chia: Diện tích đất 1.697m² x 150.000đồng/m2 = 254.550.000 đồng. Nhà ở chính có diện tích 54,6m² trị giá 87.305.400 đồng; nhà ở phía sau thuộc nhà chính, diện tích 31,92m² trị giá 46.366.992 đồng; Mái che phía trước thuộc nhà chính Diện tích 8,74m² trị giá 1.686.800 đồng, Diện tích 14, 95m² trị giá 2.885.200 đồng; Nền phía trước thuộc nhà chính láng vữa xi măng không xây bó nền, diện tích 41,2m² trị giá 4.511.400 đồng (thuộc phần b1 được ký hiệu trên sơ đồ khu đất). Phần chị K được hưởng có giá trị 397.305.792đồng.

Phần anh D1 được chia: Diện tích 2.108m² x 150.000đồng/m2 = 316.200.000 đồng; mái che diện tích 22,23m² trị giá 4.290.180 đồng, diện tích 5,64m² trị giá 1.088.500 đồng; nền láng xi măng diện tích 22,23m² trị giá 2.434.185 đồng, diện tích 5,64m² trị giá 617.580 đồng; Nhà vệ sinh diện tích 4,26m² trị giá 10.235.630 đồng. Nhà sau: diện tích 29,64m² trị giá 16.124.160 đồng. Hồ nước xây gạch ống 3,06m³ trị giá 1.282.140 đồng (thuộc phần b2 được ký hiệu trên sơ đồ khu đất). phần anh D1 được hưởng có giá trị 352.272.375đồng.

Tổng giá trị tài sản chung của chị K, anh D1 là 749.578.167đồng, mỗi người được hưởng là 374.789.083đồng, như vậy chị K phải trả lại giá trị chênh lệch cho anh D1 là 22.516.709đồng.

[7] Xét kháng cáo của anh Võ Văn D1 và ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

5

[8] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận.

[9] Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm về cách tuyên án và điều chỉnh lại số tiền còn phải thanh toán của các bên cho phù hợp.

[10] Về án phí: Theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo”. Do kháng cáo không được chấp nhận, nên anh Võ Văn D1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Do sửa án sơ thẩm về giá trị tài sản các đương sự được chia nên điều chỉnh lại số tiền án phí mà các đương sự phải chịu.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của anh Võ Văn D1.

Sửa bản án sơ thẩm số 108/2023/HNGĐ-ST ngày 13/9/2023 Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về phần chia tài sản chung, cụ thể:

- Chị Trần Thị Thúy K được hưởng các tài sản sau:

Diện tích 1.697m², loại đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa 2247 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, có sơ đồ tứ cận kèm theo là phần B của sơ đồ khu đất:

  • Bắc giáp Rạch có chiều dài 35,39m;
  • Nam giáp phần còn lại của thửa 2247 có độ dài các đoạn lần lượt 6, 95m, 9,05m, 50,76m;
  • Đông giáp đường bê tông có độ dài các đoạn 4,18m, 36,50m;
  • Tây giáp thửa 2248 có độ dài 43,28m.

Nhà ở chính có kết cấu mái tole (đóng trần thạch cao), cột đở kết cấu đở gỗ xây dựng, cột gỗ, vách tole, nền láng vữa xi măng có bê tông lót, cửa sổ cửa đi gỗ lá sách có diện tích = 6,5m x 8,4m = 54,6m²; nhà ở phía sau thuộc nhà chính, mái tole không trần, vách tole, kết cấu đỡ gỗ, nền láng xi măng có bê tông lót, cửa đi sắt kéo (có lá), diện tích 3,8m x 8,4m = 31,92m²; Mái che phía trước thuộc nhà chính lợp tole, kết cấu đỡ bằng thép, cột thép. Diện tích 1 = 3,8m x 2,3m = 8,74m², Diện tích 2 = 6,5m x 2,3m = 14, 95m²; Nền phía trước thuộc nhà chính láng vữa xi măng không xây bó nền, diện tích 10,3m x 4m = 41,2m² (thuộc phần b1 được ký hiệu trên sơ đồ khu đất).

· Anh Võ Văn D1 được hưởng các tài sản sau:

6

Diện tích 2.108m², loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 2247 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, có sơ đồ tứ cận kèm theo là phần A của sơ đồ khu đất:

  • Nam giáp thửa 1091 (phần C) có chiều dài 59,46m;
  • Bắc giáp phần còn lại của thửa 2247 có độ dài các đoạn lần lượt 6, 95m, 9,05m, 50,76m;
  • Đông giáp đường bê tông có độ dài các đoạn 12,91m, 19,99m;
  • Tây giáp thửa 2248 có độ dài 43,52m.

Nhà gồm có: mái che lợp tole kết cấu đỡ thép có diện tích 1= 3,8m x 5,85m = 22,23m², diện tích 2 = 2,3m x 2,45m = 5,64m²; nền láng xi măng có bê tông lót, không xây bó nền có diện tích 1 = 3,8m x 5,85m = 22,23m², diện tích 2 = 2,3m x 2,45m = 5,64m²; Nhà vệ sinh: móng cột tường xây gạch tô trác quét vôi, nền láng gạch men, mái lợp tole (có hầm tự hoại) diện tích = 2,45m x 1,74m = 4,26m². Nhà sau: Mái lá vách lá và tole cột gỗ, nền láng vữa xi măng có bê tông lót, diện tích = 7,8m x 3,8m = 29,64m². Hồ nước xây gạch ống (thể tích dưới 50m³) không cừ = 3,4m x 1,8m x 0,5m = 3,06m³ (thuộc phần b2 được ký hiệu trên sơ đồ khu đất).

(Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 627/CNHCT ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).

Chị Trần Thị Thúy K và anh Võ Văn D1 được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất trên theo quy định của pháp luật.

Chị Trần Thị Thúy K không được cản trở việc đi lại của cha mẹ anh D1 trên bờ đi hiện hữu và những người đi trên đất cũng không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của chị K. Trường hợp có phát sinh tranh chấp liên quan đến việc mở lối đi hoặc bồi thường thiệt hại do việc đi trên đất thì được khởi kiện bằng một vụ án khác.

2/ Chị Trần Thị Thúy K có nghĩa vụ trả giá trị chênh lệch cho anh Võ Văn D1 số tiền 22.516.709 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy K phải chịu 18.889.500 đồng (Trong đó 18.739.500 đồng án phí đối với tài sản được hưởng và 150.000 đồng án phí về hôn nhân). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị K đã nộp là 5.250.000 đồng theo biên lai số 0018865 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh. Như vậy, chị Trần Thị Thúy K còn phải nộp 13.639.500đồng.

7

- Anh Võ Văn D1 phải chịu 19.039.500 đồng (Trong đó 18.739.500 đồng án phí đối với tài sản được hưởng và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng)

Về án phí dân sự phúc thẩm anh Võ Văn D1 phải chịu 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009285 ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh, anh D1 đã nộp đủ.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực kể từ thời điểm hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND thị xã Duyên Hải;
  • - Chi cục THADS thị xã Duyên Hải;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ái Loan

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung giữa Nguyễn Thị Thúy K với Võ Văn D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger