Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS-ST

Ngày: 26/9/2024

V/v: Kiện đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng và ông Đỗ Hồng Tuyên
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguỹen Công Khuông– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Ông Tô Tuấn Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2024/TLST- DS ngày 02 tháng 8 năm 2024, về việc “Kiện đòi tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐST- DS ngày 29/8/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/QĐST- DS ngày 23/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963
  • Địa chỉ: Khu tập thể T, tổ G, phường L, TP T, tỉnh Thái Bình
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị L: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955; Địa chỉ: tổ G, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Theo văn bản uỷ quyền lập ngày 27/8/2024)
  • (Đều có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Đào Văn A, sinh năm 1986 – Có mặt
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã D, T, tỉnh Thái Bình
  • Ông Đào Đình V, sinh năm 1958 – Có mặt
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã D, T, Thái Bình
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • + Bà Đào Thị L1, sinh năm 1962 (Vợ ông Đào Đình V)
  • + Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1993 (vợ anh Đào Văn A)

Đều có nơi ĐKHKTT và địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện T, Thái Bình (Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên hoà giải và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:

  1. Do có mối quan hệ quen biết nên từ năm 2017, bà nhiều lần cho anh Đào Văn A vay tiền lần 5 triệu, lần 7 triệu lần nhiều nhất tới 100 triệu; khi vay chỉ một mình anh Đào Văn A đến vay, ký sổ mục đích để anh Đào Văn A kinh doanh. Đến ngày 19/6/2018 anh Đào Văn A cộng các lần vay và viết giấy vay nợ bà số tiền 150.000.000 đồng, ông Đào Đình V có viết vào giấy vay nợ về việc chịu trách nhiệm đôn đốc anh Đào Văn A trả nợ nên bà đồng ý cho anh Đào Văn A nợ lại, hẹn thời gian 1 năm đến 19/6/2019 trả nợ cho bà nhưng không trả, sau nhiều lần đòi nợ anh Đào Văn A đã trả 30.000.000 đồng, còn nợ 120.000.000 đồng đến nay chưa trả cho bà. Nay bà khởi kiện yêu cầu anh Đào Văn A và ông Đào Đình V phải cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà số tiền 120.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 19/6/2018, bà không yêu cầu tính lãi.
  2. Tiếp đó bà còn thế chấp nhà đất vào Ngân hàng để cho ông Đào Đình V vay số tiền 200.000.000 đồng. Vào ngày 07/12/2018, ông Đào Đình V tự tay viết giấy biên nhận vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay là để anh Đào Văn A làm ăn. Khoản vay này ông V đã trả 20.000.000 đồng còn lại 180.000.000 đồng hẹn đến ngày 07/12/2019 ông V trả nợ nhưng không trả bà đã khởi kiện yêu cầu ông Đào Đình V trả cho bà số tiền 180.000.000 đồng. Sau khi thụ lý vụ án, ông Đào Đình V đã trả đủ cho bà số tiền 180.000.000 đồng theo giấy vay nợ ngày 07/12/2018 nên bà rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 180.000.000 đồng.
  3. Từ năm 2019 đến năm 2022 anh Đào Văn A tiếp tục vay bà nhiều lần tổng là số tiền 250.000.000 đồng bà không lập giấy tờ tại thời điểm vay, các khoản vay này đến ngày 12/4/2022 anh Đào Văn A đã chốt nợ viết lại giấy nhận nợ cho bà số tiền 250.000.000 đồng, nay bà yêu cầu anh Đào Văn A trả nợ số tiền 250.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi khoản vay này.
  4. Vào ngày 01/3/2019 anh Đào Văn A vay bà số tiền 25.000.000 đồng để làm ăn bà đồng ý cho anh Đào Văn A vay 25.000.000 đồng, không tính lãi khoản này; anh Đào Văn A hẹn đến ngày 15/4/2019 trả nhưng không trả bà nay bà yêu cầu khởi kiện buộc anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà số tiền 25.000.000 đồng theo giấy vay tiền lập ngày 01/3/2019

Trong tất cả khoản vay nêu trên, ngoài khoản vay ngày 19/6/2018 anh Đào Văn A vay, ông Đào Đình V cam kết bảo lãnh thì các khoản vay theo giấy vay nợ lập ngày 07/12/2018, ngày 12/4/2022 và giấy vay nợ lập ngày 01/3/2019 chỉ một mình anh Đào Văn A đến vay và nhận tiền không liên quan đến ai khác trong gia đình. Bà khởi kiện yêu cầu anh Đào Văn A và ông Đào Đình V phải cùng trách nhiệm trả nợ 120.000.000 đồng, anh Đào Văn A phải có trách nhiệm trả nợ riêng cho bà tổng số lần vay tiền là 275.000.000 đồng.

  • * Tại bản tự khai, ý kiến tại phiên hoà giải và tại phiên toà sơ thẩm, ông Đào Đình V khai: Ông không nhất trí việc bà L yêu cầu ông phải có trách nhiệm phải có trách nhiệm bảo lãnh trả nợ đối với khoản vay còn nợ 120.000.0000 đồng theo biên nhận vay nợ của anh Đào Văn A vào ngày 19/6/2018, vì trong quan hệ vay mượn này anh Đào Văn A là người trực tiếp vay bà L, anh Đào Văn A cũng đã thừa nhận khoản nợ này. Ông chỉ ký xác nhận bảo lãnh cam kết đôn đốc trả nợ chứ không bảo lãnh trả nợ thay cho anh Đào Văn A. Đối với khoản vay này anh Đào Văn A phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Nguyễn Thị L.
  • * Bị đơn là anh Đào Văn A trình bày: Do có quan hệ quen biết bà Nguyễn Thị L vì bà L là người cùng quê nên để có tiền làm ăn kinh tế anh có vay tiền bà L đúng như lời trình bày của bà L và chứng cứ bà liên cung cấp. Anh thừa nhận chữ ký, chữ viết trong giấy vay nợ là chữ ký, chữ viết của anh, việc ông Đào Đình V có viết vào giấy vay nợ ngày 19/8/2024 là để đôn đốc anh trả nợ, ông V không nhận tiền từ bà L và cũng không được sử dụng khoản tiền này. Anh xác định anh còn nợ bà L tổng số tiền các lần tiền từ năm 2018 đến năm 2022 là 395.000.000 đồng, các lần vay tiền đều một mình anh vay và anh nhận tiền của bà L không liên quan đến ai khác trong gia đình. Anh đề nghị được trả nợ dần cho bà Nguyễn Thị L mỗi tháng là ít nhất là 5.000.000 đồng. Anh xác định trách nhiệm trả nợ là của riêng anh vì anh là người trực tiếp giao dịch vay tiền bà L và anh đầu tư kinh doanh. Việc viết tên vợ Hoàng Thị T1 là để bà L yêu tâm còn chị T1 không quan hệ giao dịch vay tiền bà L.

Do không hòa giải được nên vụ án phải đưa ra xét xử

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng các Điều 244 và Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 335, 336, 352, 357 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí : Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc ông Đào Đình V phải trả nợ số tiền 180.000.000 đồng; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà số tiền 275.000.000 đồng theo giấy vay nợ các 12/4/2022 và ngày 01/3/2019; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc anh Đào Văn A và ông Đào Đình V phải trả nợ theo giấy nhận nợ ngày 19/6/2018 số tiền 120.000.000 đồng, buộc anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị L số tiền 120.000.000 đồng. Tổng số tiền anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị L là 395.000.000 đồng. Anh Đào Văn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

    Nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện và chứng cứ là các giấy vay tiền, đồng bị đơn thừa nhận chứng cứ, thừa nhận chữ ký, chữ viết trong hai giấy vay tiền của nguyên đơn cung cấp là đúng chữ ký, chữ viết trong các giấy vay nợ đây là những chứng cứ không phải chứng minh trong vụ án này.

  2. Đối với số tiền ông Đào Đình V viết giấy vay ngày 07/12/2018 do ông Đào Đình V đã trả nợ trước khi xét xử,bà L có đơn xin rút yêu cầu đối với số tiền này nên căn cứ vào Điều 217 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với số tiền 180.000.000 đồng.
  3. Đối với giấy vay nợ ngày 19/6/2018, anh Đào Văn A là người vay bà Nguyễn Thị L số tiền 150.000.000 để làm ăn, hai bên thừa nhận đã trả 30.000.000 đồng, còn lại 120.000.000 đồng là chứng cứ không phải chứng minh. Bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông Đào Đình V và anh Đào Văn A đều phải có trách nhiệm trả nợ, anh Đào Văn A thừa nhận là người vay tiền và là người nhận số tiền 150.000.000 đồng, xác định khoản nợ này là nợ của riêng anh không liên quan đến ai Xét nội dung giấy vay nợ ngày 19/6/2018, ông Đào Đình V có viết nội dung “Tôi là bố cháu Đào Văn A đến nhà cô L chứng kiến ghi giấy vay tiền. Tôi sẽ động viên cháu trả lãi đúng hẹn theo thoả thuận, gốc trả theo khả năng hàng tháng nếu có”. Nội dung ông Đào Đình V đôn đốc trả nợ không cam kết trả nợ thay. Vì vậy, khoản nợ này anh Đào Văn A phải có trách nhiệm trả nợ toàn bộ cho bà Nguyễn Thị L.
  4. Các lần anh Đào Văn A vay tiền ngày 01/3/2019 số tiền 25.000.000 đồng và số tiền vay từ 2019 đến năm 2022 được chốt nợ vào ngày 12/4/2022 là 250.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị L khởi kiện, anh Đào Văn A thừa nhận nợ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, buộc anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị L tổng sống tiền nợ được chốt nợ vào ngày 01/3/2019 số tiền 25.000.000 đồng và chốt nợ vào ngày 12/4/2022 là 250.000.000, tổng là 275.000.000 đồng.
  5. Bị đơn đề xuất trả nợ dần bà L theo tháng mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng bà Nguyễn Thị L không đồng ý. Xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị L là phù hợp với pháp luật nên buộc anh Đào Văn A phải trả toàn bộ nợ cho bà Nguyễn Thị L
  6. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn là anh Đào Văn A phải chịu án phí trên toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, số tiền án phí dân sự bị đơn phải nộp là 395.000.000 x 5% = 19.750.000 đồng.

    - Do nguyên đơn khởi kiện được miễn nộp tạm ứng án phí nên không xử lý về tạm ứng án phí

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 217; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 335, 336, 352, 357 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Đào Đình V phải trả nợ cho bà L số tiền 180.000.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc anh Đào Văn A và ông Đào Đình V phải cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà Nguyễn Thị L số tiền 120.000.000 đồng. Buộc anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị L số tiền 120.000.000 đồng theo giấy vay nợ ngày 19/6/2018
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà số tiền 275.000.000 đồng theo giấy vay nợ các 12/4/2022 và ngày 01/3/2019

    Tổng số tiền anh Đào Văn A phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị L là 395.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Anh Đào Văn A phải phải chịu 19.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo

    Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 9 Luật thi hành án dân sự; điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 14/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay giữa bà L và ông V, anh A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger