Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS - ST

Ngày: 23-04-/2024.

V/v tranh chấp: "Hợp đồng tín dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh

Bà Lê Thị Hường

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa; Bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2021, về việc tranh chấp: "hợp đồng tín dụng". theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:14/2024/QÐST- DS, ngày 14-03-2024, quyết định hoãn phiên tòa số; 16/2024, ngày 04-04-2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N

Địa chỉ trụ sở: Số B, Cách mạng tháng 8, phường D, Quận C, T.P H.

Đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Quốc T, Chủ tịch hội đồng quản trị.

Ủy quyền cho ông Nguyễn Quốc H, giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần N- Chi nhánh N1

Ủy quyền lại cho ông Đinh Gia H1, Nhân viên kinh doanh Ngân hàng thương mại cổ phần N - Chi nhánh N1 (theo giấy ủy quyền ngày 17-11-2023)

Địa chỉ trụ sở: Số D, đường A, phường T, T.P P - T, Ninh Thuận

- Bị đơn: Bà Trần Minh T1, sinh năm: 1964 (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía bị đơn:

Bà Lê Thị Thùy D, sinh năm: 1996 (vắng mặt)

Ông Đặng Lê Minh K, sinh năm: 2019 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: L. An Hải, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai có trong hồ sơ và tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền (ông H1) trình bày: Bà Trần Minh T1 có nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền 2.500.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số: 1566/2018/414-CV, ngày 03/7/2018, thời hạn vay là 12 tháng, thời hạn trả hết nợ là ngày 03/7/2019; lãi suất trong hợp đồng khoản 10% hoặc 11% trên một năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, ngày 25/7/2019 lập thỏa thuận sủa đổi bổ sung thời hạn hiệu lực tín dụng đến hết ngày 02/7/2020. Giấy nhận nợ ký ngày 20/01/2020, số tiền nhận nợ 2.500.000.000 đồng thời hạn vay 6 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua hàng nông sản, rau củ quả, lãi suất 11,3% / năm,, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất thay đổi 3 tháng/ lần (vào ngày 20 hàng tháng, nợ gốc trả cuối kỳ 20/7/2020.

Từ khi nhận nợ đến nay bà T1 vẫn còn nguyên nợ gốc 2.500.000.000 đồng. Đối với khoản tiền lãi đã trả đến ngáy 19/3/2020; từ ngày 20/03/2020 cho đến nay bà T1 không thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nào.

Tính từ ngày 20/03/2020 đến ngày 04/04/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng N2 tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 4.372.436.417 đồng. Trong đó: tiền gốc 2.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 101.592.467 đồng, lãi quá hạn 1.731.914.384 đồng, lãi phạt chậm trả 38.929.566 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngaqỳ 05/04/ 2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng

Tài sản thế chấp bảo đảm khi vay tiền là thửa đất số 67, tờ bản đồ số 3b, diện tích 654m², trong đó: đất ở nông thôn 300m², đất nông nghiệp 354m², thửa đất có 223m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ, tọa lạc tại thôn L, xã A do ông Đặng Trần Anh L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số: BU.468954 do UBND huyện N cấp ngày 05/05/2014 (hợp đồng thế chấp tài sản số 0976/2018/414-BĐ, ngày 05/07/2018).

Nay Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 phải trả nợ một lần tạm tính từ ngày 20/03/2020 đến ngày 04/04/2024 tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 4.372.436.417 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 05/04/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng.

Trường hợp bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thảm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp số 0976/2018/414-BĐ, ngày 05/07/2018.

Bị đơn (bà T1) trình bày: Bà xác nhận có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền 2.500.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số: 1566/2018/414-CV, ngày 03/7/2018, thời hạn vay là 12 tháng, thời hạn trả hết nợ là ngày 03/7/2019; lãi suất trong hợp đồng khoản 10% hoặc 11% trên một năm. lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, ngày 25/7/2019 lập thỏa thuận sủa đổi bổ sung thời hạn hiệu lực tín dụng đến hết ngày 02/7/2020. Giấy nhận nợ ký ngày 20/01/2020, số tiền nhận nợ 2.500.000.000 đồng thời hạn vay 6 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua hàng nông sản, rau củ quả, lãi suất 11,3% / năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất thay đổi 3 tháng/ lần (vào ngày 20 hàng tháng, nợ gốc trả cuối kỳ 20/7/2020.

Từ khi nhận nợ đến nay bà T1 vẫn còn nguyên nợ gốc 2.500.000.000 đồng. Đối với khoản tiền lãi đã trả đến ngày 19/3/2020; từ ngày 20/03/2020 cho đến nay bà T1 không thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nào.

Tính từ ngày 20/03/2020 đến ngày 04/04/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng N - Chi nhánh N1 tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 4.372.436.417 đồng.

Tài sản thế chấp bảo đảm khi vay tiền là thửa đất số 67, tờ bản đồ số 3b, diện tích 654m², trong đó: đất ở nông thôn 300m², đất nông nghiệp 354m², thửa đất có 223m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ, tọa lạc tại thôn L, xã A do ông Đặng Trần Anh L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số: BU.468954 do UBND huyện N cấp ngày 05/05/2014 (hợp đồng thế chấp tài sản số 0976/2018/414-BĐ, ngày 05/07/2018).

Nay Ngân hàng N - Chi nhánh N1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 phải trả nợ một lần tạm tính từ ngày 20/03/2020 đến ngày 04/04/2024 tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 4.372.436.417 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 05/04/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng.

Trường hợp bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp số 0976/2018/414-BĐ, ngày 05/07/2018.

T1 đồng ý toàn bộ số nợ trên, bà xin trả gốc còn lãi bà xin Ngân hàng giảm lãi hoặc xóa lãi cho bà; vì gia đình bà khó khăn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thùy D và cháu Đặng Lê Minh K: Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng, nhưng bà D, cháu K không có mặt tại Tòa án vào các lần triệu tập, Tòa án thông báo trên báo C 3 kỳ liên tục và đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị đơn bà Trần Minh T1 phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tính đến ngày 04/04/2024 tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 4.372.436.417 đồng

Trong đó: tiền gốc 2.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 101.592.467 đồng, lãi quá hạn 1.731.914.384 đồng, lãi phạt chậm trả 38.929.566 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 05/04/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng;

Tiếp tục duy trì tài sản tài sản thế chấp là thửa đất số 67, tờ bản đồ số 3b, diện tích 654m² tọa lạc tại thôn L, xã A do ông Đặng Trần Anh L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả nợ cho ngân hàng N.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Minh T1 do bà T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền 36.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0025454 ngày 01/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Về chi phí thẩm định tài sản: Buộc bà T1 phải chịu 2.250.000 đồng để hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên,

[1] Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ kiện tranh chấp "hợp đồng tín dụng và tài sản thế chấp”

[2] Về phần thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng bà bà D, cháu K vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đưa ra xét xử vắng mặt theo luật định; Hơn nữa bà D, cháu K đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản trả lời, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án xem xét là tự từ bỏ quyền lợi của mình..

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:

[3] Xét hợp đồng tín dụng số: 15662018/414-CV, thỏa thuận sủa đổi bổ sung ngày 25/7/2019 thời hạn hiệu lực tín dụng đến hết ngày 02/7/2020. Giấy nhận nợ ký ngày 20/01/2020, số tiền nhận nợ 2.500.000.000 đồng thời hạn vay 6 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua hàng nông sản, rau củ quả, lãi suất 11,3% / năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất thay đổi 3 tháng/ lần (vào ngày 20 hàng tháng, nợ gốc trả cuối kỳ 20/7/2020 ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N với bà Trần Minh T1 trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên hợp pháp. Các bên tham gia giao dịch trong hợp đồng có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.

[3.1] Xét nợ gốc: theo trình bày đại diện hợp pháp của nguyên đơn và trình bày của bị đơn bà Trần Minh T1 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã nhận đủ số tiền vay 2.500.000.000 đồng.từ ngân hàng N Giấy nhận nợ ký ngày 20/01/2020, số tiền nhận nợ 2.500.000.000 đồng. Từ khi nhận nợ đến nay, bị đơn chưa trả cho nguyên đơn bất kỳ khoản nợ gốc nào. Như vậy bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc 2.500.000.000 đồng.

[3.2] Xét nợ lãi: Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã trả lãi đến ngày 19/3/2020 thì không trả lãi cho Ngân hàng nữa, Nay Ngân hàng tính từ ngày 20/03/2020 đến ngày 04/04/2024 yêu cầu bà T1 phải trả lãi tổng cộng: 1.872.436.417 đồng; trong đó: lãi trong hạn 101.592.467 đồng, lãi quá hạn 1.731.914.384, lãi phạt chậm trả 38.929.566 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 05/04/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng.

Xét thấy mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận tại khoản 2 Điều 4 của hợp đồng tín dụng. số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả nợ và lãi phát sinh mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là phù hợp với thỏa thuận tại Điều, Điều 2 và Điều 9 của hợp đồng tín dụng.

Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền 2.500.000.000 đồng nợ gốc, số tiền 1.872.436.417 đồng nợ lãi và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/04/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng.

Xét hợp đồng thế chấp tài sản: số 0976/2018/414/BĐ, ngày 05/0702018 đã được đăng ký thế chấp tại văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N – Chi nhánh huyện N ngày 5/7/2018. Nội dung của hợp đồng xác định nghĩa vụ được bảo đảm gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đối với nguyên đơn. Tuy nhiên hợp đồng thế chấp cũng xác định được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp này tối đa là 5.140.000.000 đồng .

Tại bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn xác định hợp đồng thế chấp này chỉ bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng từng lần số 15662018/414-CV, thỏa thuận sủa đổi bổ sung ngày 25/7/2019 có số dư nợ gốc 2.500.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị đơn xác định trên đất có căn nhà 2 tầng là tài sản của bị đơn, tài sản có được từ tiền vay của Ngân hàng N xây nên và bị đơn đồng ý bảo đảm căn nhà để trả nợ. Do đó có căn cứ xác định tài sản bảo đảm gồm: quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 3b, diện tích 654m², tọa lạc tại thôn L, xã A do ông Đặng Trần Anh L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số phát hành BU.468954 do UBND huyện N cấp ngày 05/05/2014 (hợp đồng thế chấp tài sản số 0976/2018/414-BĐ, ngày 05/07/2018) là tài sản bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm; nhưng bị đơn là người cao tuổi có đơn xin miễn, giảm án phí căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 bị đơn được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

[5] Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền 36.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0025454 ngày 01/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Về chi phí thẩm định tài sản: Ngân hàng thương mại cổ phần N nộp tạm ứng số tiền 2.250.000 đồng đã chi phí hết,

Xét lỗi này thuộc về bị đơn nên khoản chi phí này buộc bà T1 phải chịu 2.250.000 đồng để hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N.

[6] Về quan điểm đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 157,158,273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015,

Căn cứ các Điều 303, 307.317,318,319,320, 351Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91,95,98 Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ điểm g, khoản 1, Điều 179 Luật đất đai.

Căn cứ Nghị quyết 326 UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Ngân hàng thương mại cổ phần N).

    Buộc bị đơn bà Trần Minh T1 phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần N - Chi nhánh N1 toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 04/04/2024 tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 4.372.436.417 đồng

    Trong đó: tiền gốc 2.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 101.592.467 đồng, lãi quá hạn 1.731.914.384 đồng, lãi phạt chậm trả 38.929.566 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 05/04/2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng.

  2. Xử lý tài sản thế chấp:
    1. Trường hợp bà Trần Minh T1 thanh toán đầy đủ các khoản nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần N có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Minh T1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BU.468954 do UBND huyện N cấp ngày 05/05/2014
    2. Trường hợp bà Trần Minh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thương mại cổ phần N thì Ngân hàng thương mại cổ phần N2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền sử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67, tờ bản đồ số 3b, diện tích 654m², tọa lạc tại thôn L, xã A do ông Đặng Trần Anh L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số phát hành BU.468954 do UBND huyện N cấp ngày 05/05/2014 để thanh toán nợ của bà Trần Minh T1.
  3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Minh T1 do bà T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
  4. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền 36.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0025454 ngày 01/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.
  5. Về chi phí thẩm định tài sản: Buộc bà T1 phải chịu 2.250.000 đồng để hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn; bị đơn có mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà D, cháu K vắng mặt. Báo cho những người có mặt biết quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23-04-2024). Riêng người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án theo thủ tục tố tụng hoặc niêm yết bản án.

"...trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị H2; Phạm Ngọc Minh

Đoàn Sửu

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - THADS huyện N (để thi hành);
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS - ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 14/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger