|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/DS-ST
Ngày: 23-4-2024
“V/v Tranh chấp đòi lại QSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đinh Cường
2/ Ông Dương Sinh Huy
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 150/2022/ TLST- DS ngày 17 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp đòi lại QSDĐ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 (vắng mặt).
1.2 Bà Gian Kim T, sinh năm 1968 (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L là bà Gian Kim T theo giấy ủy quyền ngày 26/7/2022. Cùng địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1934. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị H ủy quyền cho anh Nguyễn Minh T1 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 05/11/2022. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của bà H là Phan Thanh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Nguyễn Hồng N, sinh năm 1989 (có mặt).
3.2 Nguyễn Bá D, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
3.3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964 (Có đơn xin vắng mặt).
3.4. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970 (Có đơn xin vắng mặt).
3.5. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1966 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T, ông L uỷ quyền cho bà Gian Kim T trình bày:
Ông Nguyễn Văn L là chủ sử dụng hợp pháp QSD đất thuộc thửa 63, tờ bản đồ số 2, diện tích 960m², mục đích sử dụng đất vườn, tọa lạc ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2003, hiện nay chưa được cấp đổi theo dự án V vì đang tranh chấp.
Trong quá trình sử dụng đất thửa đất số 63 giáp thửa đất số 62 tờ bản đồ số 2, diện tích 2.241,5m², loại đất vườn 1941,5m², đất ở 300m² tọa lạc ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2010 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Hộ bà Nguyễn Thị H sử dụng thửa đất 62 lấn sang thửa đất số 63 của hộ ông Nguyễn Văn L có chiều ngang 6m, chiều dài 10m tổng diện tích 60m².
Ông L khởi kiện yêu cầu UBND xã H giải quyết nhưng không thành. Ông Nguyễn Văn L khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mang Thít yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị H trả lại diện tích 60m² loại đất vườn, thuộc thửa đất số 63 tọa lạc ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Tại phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn thống nhất kết quả đo đạc hiện trạng, có thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc phía bị đơn trả lại diện tích đất 37,2m² theo trích đo ngày 02/8/2023 gồm các mốc 8,9,10,11,12,13,8 thuộc tách thửa 201-3, thuộc một phần của thửa đất 201 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T là người chủ sử dụng hợp pháp.
Thống nhất kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và tài sản có trên đất, thống nhất lấy giá đất theo quy định của UBND tỉnh V làm căn cứ xét xử.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H, đại diện theo uỷ quyền của bà H là anh Nguyễn Minh T1 trình bày:
Hộ bà Nguyễn Thị H có đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thuộc thửa số 62 tờ bản đồ số 2, diện tích 2.241,5m², loại đất vườn 1941,5m², đất ở 300m² tọa lạc ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2010, diện tích đất tranh chấp trong vụ án này phía bà H đã quản lý, sử dụng thửa đất này hơn 30 năm và khẳng định đã sử dụng đúng diện tích, hình thể như cơ quan có thẩm quyền cấp giấy, việc phía nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn sang 37,2m² theo trích đo ngày 02/8/2023 gồm các mốc 8,9,10,11,12,13,8 thuộc tách thửa 201-3, thuộc một phần của thửa đất 201 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất phía bị đơn không đồng ý.
Thống nhất kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và tài sản có trên đất, thống nhất lấy giá đất theo quy định của UBND tỉnh V làm căn cứ xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Chị Nguyễn Hồng N trình bày: Thống nhất lời trình bày của cha, mẹ là ông L, bà T, trong vụ án này phía chị N không có yêu cầu gì.
Ông Nguyễn Văn H2 trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của ông Nguyễn Minh T1, không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của ông Nguyễn Minh T1, không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H trình bày quan điểm là đề nghị HĐXX căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì QSD đất tranh chấp trong vụ án này phía bị đơn đã sử dụng ổn định, lâu dài và được cơ quan quản lý đất đai của nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ bà H.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS), trong đó về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng, đầy đủ đương sự, người tham gia tố tụng; về nhận đơn khởi kiện, thụ lý, ra thông báo việc thụ lý vụ án; việc tiếp nhận, yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ; việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng; việc tổ chức hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T
Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn chịu theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Án phí: Đương sự chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp quyền sử dụng đất. Bị đơn và QSD đất tranh chấp cùng địa chỉ tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long, vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và các điểm a, c khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật TTDS xét xử vắng mặt.
Tại phiên toà, nguyên đơn bà Gian Kim T và bà T với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn L có thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị L1 trả diện tích đất 37,2m² loại đất trồng cây lâu năm gồm các mốc 8,9,10,11,12,13,8 thuộc tách thửa 201-3, thuộc một phần của thửa đất 201 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T là người chủ sử dụng hợp pháp và xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận vì phù hợp Điều 244 của BLTTDS.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa và trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ theo lời trình bày, đương sự thừa nhận phần đất tranh chấp có diện tích 37,2m², loại đất trồng cây lâu năm do bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất và bà H, bà H1, ông H2, bà L1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng hiện nay trên đất có 01 bụi Trúc của bà H trồng khoảng 13 năm và một mộ đất đã được bà H cải táng đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định Điều 92 của BLTTDS. Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận bởi các lý do sau:
Thứ nhất, qua khảo sát đo đo đạc, hiện trạng sử dụng đất thì diện tích đất tranh chấp 37,2m² loại đất trồng cây lâu năm gồm các mốc 8,9,10,11,12,13,8 thuộc tách thửa 201-3 trên đất có 01 bụi trúc trồng hơn 13 năm tuổi, 01 ngôi mộ đất chôn nhiều năm được bà H cải táng ở vị trí khác cũng nằm trên thửa đất 201 do bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất và cây trúc là do bà H trồng chứng tỏ hiện trạng sử dụng đất thuộc về phía bà Nguyễn Thị H.
Thứ hai, nguồn gốc đất của ông, bà chung có từ nhiều năm nay, phía bà Nguyễn Thị H đã quản lý sử dụng hơn 30 năm, theo công văn số 204/UBND-NC, ngày 16/02/2024 của UBND huyện M, tỉnh Vĩnh Long phúc đáp cho Toà án nhân dân huyện Mang Thít thì:
Ngày 01/02/2002, hộ bà Nguyễn Thị H được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận QSD đất có số phát hành R 044558, số vào sổ 35741, thửa số 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.600m², loại đất ở nông thôn và trồng cây lâu năm.
Thực hiện theo quyết định số 299/QĐ-UBND ngày 06/02/2007 của UBND tỉnh V, ngày 17/12/2009 hộ bà Nguyễn Thị H làm đơn đăng ký biến động về sử dụng đất thửa 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 2241,5m² (diện tích tăng do đo đạc thực tế).
Đến ngày 08/02/2010 hộ bà Nguyễn Thị H được UBND huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận QSD đất có số phát hành tổng cục BA 420265, số vào sổ CH00306, thửa 62, tờ bản đồ 02, diện tích 2241,5m² loại đất ở 300m², còn lại 1941,5m² là đất trồng cây lâu năm, QSD đất toạ lạc ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Việc cấp giấy cho hộ bà H là đúng trình tự thủ tục, qua khảo sát đo đạc cơ quan chuyên môn kết luận phần tranh chấp thuộc tách thửa 201-3 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị H trả lại diện tích đất 37,2m² loại đất trồng cây lâu năm gồm các mốc 8,9,10,11,12,13,8 thuộc tách thửa 201-3, thuộc một phần của thửa đất 201 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất là phù hợp Điều 166, 168, 170 của Luật đất đai 2013 và Điều 160 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T nộp chi phí tố tụng là 6.000.000đ (sáu triệu đồng), nguyên đơn đã nộp xong nên không phải nộp thêm là phù hợp Điều 157, 164 của Bộ luật TTDS.
[4] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
[6] Án phí: Ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T nộp theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 166, 168, 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 160 của bộ Luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Điều 147, 157, 164, 227, 228, 235, 244, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T yêu cầu bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị L1 trả ông Nguyễn Văn L, bà Gian Kim T diện tích 37,2m² loại đất trồng cây lâu năm gồm các mốc 8,9,10,11,12,13,8 thuộc tách thửa 201-3, thuộc một phần của thửa đất 201 do hộ bà Nguyễn Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
2. Chi phí tố tụng khác: Chi phí khảo sát, xem xét thẩm định tại chổ Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T nộp chi phí tố tụng là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng), nguyên đơn đã nộp xong nên không phải nộp thêm.
3. Về án phí: ông Nguyễn Văn L và bà Gian Kim T nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) mà ông L, bà T đã nộp tạm ứng án phí tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long theo lai thu số 0007397, ngày 17/10/2022 nên ông L, bà T không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo đương sự có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Huỳnh Công Hảo |
Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp đòi lại qsdđ
- Số bản án: 14/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại QSDĐ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại QSDĐ giữa ông L và bà H
