Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS-PT

Ngày: 12 – 01 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

Các Thẩm phán: Bà Tăng Thị Thúy Nga.

Bà Trương Tố Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2023/TLPT-DS ngày 20/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 360/2023/QĐ-PT, ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Chúc L, sinh năm 1968. Địa chỉ ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Hồng N là: Ông Lê Văn S, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Lê Văn S, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
    2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn S: Luật sư Phạm Minh T, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ: số A H, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
    3. Bà Lê Thị Tú A (vắng mặt).
    4. Bà Lê Thị Tú N1 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng
  • - Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N và nguyên đơn Nguyễn Thị Chúc L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Chúc L trình bày như sau: Năm 2019 bà có làm chủ hụi, có đứng ra kêu hụi thì có nhiều người tham gia trong đó có bà Nguyễn Thị Hồng N tham gia các dây cụ thể như sau:

Dây hụi 1:

2.000.000 đồng (hụi tháng), hụi khui ngày 02/03/2019 dương lịch, 01 tháng khui 01 lần, có 31 người tham gia, bà N tham gia 01 chân, tên trong danh sách chơi hụi là “Mợ 5” dây hụi này đã mãn vào ngày 02/10/2021, cụ thể như sau:

Ở dây hụi này bà N đã đóng hụi sống và đã hốt hụi, bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho bà N. Tuy nhiên sau khi hốt hụi xong, ở dây hụi này bà N còn nợ lại bà 19 lần hụi chết là: 2.000.000 đồng x 01 chân x 19 lần = 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng).

Dây hụi 2:

1.000.000 đồng (hụi tháng), hụi khui ngày 09/06/2019 dương lịch, 01 tháng khui 01 lần, có 41 người tham gia, bà N tham gia 03 chân, tên trong danh sách chơi hụi là “Tú A” và” Mợ 5” dây hụi này đã mãn vào ngày 09/11/2022, cụ thể như sau:

Ở dây hụi này bà N đã đóng hụi sống và đã hốt hụi, bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho bà N. Tuy nhiên sau khi hốt hụi xong, ở dây hụi này bà N còn nợ lại bà 32 lần hụi chết là: 1.000.000 đồng x 03 chân x 32 lần = 96.000.000 đồng (Chín mươi sáu triệu đồng).

Dây hụi 3:

1.000.000 đồng (hụi tháng), hụi khui ngày 05/09/2019 dương lịch, 01 tháng khui 01 lần, có 38 người tham gia, bà N tham gia 02 chân, tên trong danh sách chơi hụi là “5 Suốt” dây hụi này đã mãn vào ngày 05/11/2022, cụ thể như sau:

Ở dây hụi này bà N đã đóng hụi sống và đã hốt hụi, bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho bà N. Tuy nhiên sau khi hốt hụi xong, ở dây hụi này bà N còn nợ lại bà 33 lần hụi chết là: 1.000.000 đồng x 02 chân x 33 lần = 66.000.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu đồng).

Dây hụi 4:

1.000.000 đồng (hụi tháng), hụi khui ngày 05/09/2019 dương lịch, 01 tháng khui 01 lần, có 37 người tham gia, bà N tham gia 02 chân, tên trong danh sách chơi hụi là “5 Suốt” dây hụi này đã mãn vào ngày 05/10/2022, cụ thể như sau:

Ở dây hụi này bà N đã đóng hụi sống và đã hốt hụi, bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho bà N. Tuy nhiên sau khi hốt hụi xong, ở dây hụi này bà N còn nợ lại bà 32 lần hụi chết là: 1.000.000 đồng x 02 chân x 32 lần = 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).

Dây hụi 5:

500.000 đồng (hụi tháng), hụi khui ngày 05/09/2019 dương lịch, 01 tháng khui 01 lần, có 37 người tham gia, bà N tham gia 01 chân, tên trong danh sách chơi hụi là “5 Suốt” dây hụi này đã mãn vào ngày 05/10/2022, cụ thể như sau:

Ở dây hụi này bà N đã đóng hụi sống và đã hốt hụi, bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho bà N. Tuy nhiên, sau khi hốt hụi xong, ở dây hụi này bà N còn nợ lại bà 32 lần hụi chết là: 500.000 đồng x 02 chân x 32 lần = 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Ngoài ra ở dây hụi này bà N còn mua một chân hụi của người khác tên trong danh sách chơi hụi là “Oxin” sau đó bà N hốt hụi và còn nợ lại bà 32 lần hụi chết là: 500.000 đồng x 02 chân x 32 lần = 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Tổng cộng bà Nguyễn Thị Hồng N còn nợ lại bà: 38.000.000 đồng (dây hụi 1) + 96.000.000 đồng (dây hụi 2)+ 66.000.000 đồng (dây hụi 3) + 64.000.000 đồng (dây hụi 4)+ 32.000.000 đồng (dây hụi 5)= 296.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi sáu triệu đồng).

Sau đó tôi có yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N ký tên vào “Tờ cam kết” ngày 05/03/2021 thừa nhận còn nợ của bà và có hứa là mỗi tháng sẽ trả cho bà 6.000.000 đồng cho đến khi trả đủ tiền và sẽ trả vào ngày 5 hàng tháng. Tuy nhiên, trong khi tính toán lại tiền nợ thì bà và bà N đã tính thiếu nên trong tờ cam kết chỉ ghi là 240.000.000 đồng, thực chất là bà N còn nợ bà là 296.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi sáu triệu đồng).

Sau đó kể từ khi làm T1 cam kết cho đến nay thì bà N chỉ trả cho bà được 2.000.000 đồng, còn nợ lại 294.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi bốn triệu đồng) thì bà N vẫn không chịu trả cho bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà L yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Lê Văn S có phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi còn nợ tính theo tờ cam kết là: 238.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu đồng).

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Bà là Chi hội trưởng phụ nữ, là đảng viên ấp L, còn chồng bà là thương binh, vợ chồng bà luôn luôn chấp hành đúng pháp luật, vợ chồng bà không có đánh số đề hay có chơi hụi, những hàng xóm xung quanh nhà bà đều biết, từ trước đến nay vợ chồng bà sống chung không có thiếu nợ ai cả. Nhưng hiện nay bà Nguyễn Thị Chúc L lại làm đơn khởi kiện nói rằng bà chơi hụi của bà Chúc L và còn thiếu tiền hụi là 294.000.000 đồng và có cung cấp giấy cam kết có chữ ký của bà cho Tòa án nên yêu cầu vợ chồng bà phải trả tiền. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Chúc L là không đúng, từ trước đến nay bà không có chơi hụi của ai cả, hàng xóm xung quanh đều biết sự việc này và bà cũng không có làm tờ cam kết hay ký tên trên bất cứ giấy tờ gì cho bà Chúc L nên những giấy tờ hụi và giấy cam kết mà bà Chúc L đã cung cấp cho Tòa án là giả, việc này do bà Chúc L tự tạo ra, theo bà được biết bà Chúc L thường xuyên chơi hụi và lập danh sách các thành viên chơi hụi khống. Nay bà đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L. Bà chỉ có ký tờ giấy do bà L giao tiền hụi phần hụi của con bà là Tú A, giấy cam kết bà có cung cấp cho Tòa án án. Nay bà không có ký tên trên giấy cam kết của bà L nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của bà L.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn S trình bày: Ông là thương binh, vợ ông Chi hội t phụ nữ, là đảng viên ấp L, vợ chồng ông luôn luôn chấp hành đúng pháp luật, vợ chồng ông không có đánh số đề hay có chơi hụi, những hàng xóm xung quanh nhà tôi đều biết, từ trước đến nay vợ chồng ông sống chung không có thiếu nợ ai cả. Nhưng hiện nay bà Nguyễn Thị Chúc L lại làm đơn khởi kiện nói rằng vợ ông chơi hụi của bà Chúc L và còn thiếu tiền hụi là 294.000.000 đồng và có cung cấp giấy cam kết có chữ ký của vợ ông cho Tòa án nên yêu cầu vợ chồng ông phải trả tiền. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Chúc L là không đúng, từ trước đến nay vợ chồng ông không có chơi hụi của ai cả, hàng xóm xung quanh đều biết sự việc này và vợ ông cũng không có làm tờ cam kết hay ký tên trên bất cứ giấy tờ gì cho bà Chúc L nên những giấy tờ hụi và giấy cam kết mà bà Chúc L đã cung cấp cho Tòa án là giả, việc này do bà Chúc L tự tạo ra, theo ông được biết bà Chúc L thường xuyên chơi hụi và lập danh sách các thành viên chơi hụi khống. Nay ông đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L. Có thể trước đây con tôi là Tú N1, Tú A có tham gia chơi hụi của bà L rồi bà L làm khống cho vợ chồng ông. Cụ thể là tờ cam kết mà bà N có cung cấp cho Tòa án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tú N1 vắng mặt không có ý kiến trình bày.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tú A vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Sự việc được Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định như sau:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 91, 147, Điều 161, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 471 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 16, Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N có trách nhiệm trả tiền nợ hụi còn thiếu với số tiền là 238.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu đồng). Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Chúc L số tiền nợ hụi 238.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L về việc yêu cầu ông Lê Văn S liên đới cùng với bà Nguyễn Thị Hồng N trả tiền nợ hụi còn thiếu cho bà L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, chi phí giám định và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09 tháng 10 năm 2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N kháng cáo bản án sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Ngày 09 tháng 10 năm 2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Chúc L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Văn S liên đới trả nợ cho bà.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện và đơn kháng cáo, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Lê Văn S trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm có trưng cầu giám định chữ viết và chữ ký của bà Nguyễn Thị Hồng N và có kết luận giám định số 127 ngày 08/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh S, ông S và bà N có nhận được thông báo Kết quả giám định, không đồng ý nhưng do không hiểu biết nên không có yêu cầu giám định lại. Theo quy định pháp luật thì không đồng ý với kết quả giám định có quyền yêu cầu giám định lại. Tại phiên tòa hôm nay ông S vẫn tiếp tục yêu cầu gám định lại và đồng ý nộp tạm ứng chi phí giám định vì theo phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm thì số tiền bà N phải trả là 238.000.000 đồng là số tiền lớn nên để thỏa mãn yêu cầu của các bên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn S cho giám định lại chữ ký và chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng N.

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Hồng N và kháng cáo nguyên đơn Nguyễn Thị Chúc L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. [1.1] Người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo là đúng theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo luật định.
    2. [1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn Nguyễn Thị Hồng N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị Tú A, Lê Thị Tú N1 vắng mặt. Xét thấy, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bà N vắng mặt nhưng có người đại diện tham giá tố tụng, bà A và bà N1 vắng mặt lần thứ hai không lý do và việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. [2.1] Bà Nguyễn Thị Chúc L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Lê Văn S trả tiền hụi còn thiếu là 238.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Lê Văn S phản đối không thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà N làm chủ và không có thiếu tiền hụi của bà N nên không đồng ý trả theo yêu cầu của bà N. Cấp sơ thẩm đã xem xét giải quyết qua đánh giá chứng cứ buộc bà Nguyễn Thị Hồng N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Chúc L tiền hụi còn thiếu là 238.000.000 đồng. Không đồng ý với quyết định trên bà Nguyễn Thị Hồng N kháng cáo yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L và bà Nguyễn Thị Chúc L kháng cáo yêu cầu ông Lê Văn S phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà Nguyễn Thị hồng N2 trả số tiền còn thiếu nêu trên.
    2. [2.2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ly vì cho rằng bà không tham gia chơi hụi, tờ cam kết do bà L cung cấp là giả mạo và bà N không đồng ý với kết quả giám định chữ ký và chữ viết. Xét thấy, bà Nguyễn Thị Hồng N cho rằng bà không có tham gia chơi hụi do bà Chúc L làm chủ hụi và cũng không có làm cam kết với bà L mà do bà L tự tạo ra. Bà Chúc L thì cho rằng bà N có tham gia 05 dây hụi và đã hốt hết, sau khi ngưng hụi thì hai bên đã tổng hợp nợ và bà N có làm tờ “cam kết ngày 5/3/2021” (BL 73). Tại bản kết luận giám định số 127/KLTL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh S xác định “chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Hồng N dưới mục Người cam kết trên tờ cam kết, ngày 05/3/2021 và các tài liệu so sánh là do cùng một người ký, viết ra”. Đồng thời, qua kết quả xác minh một số người dân ở địa phương có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi thì những người này cũng xác định bà N có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi. Việc bà N cho rằng không tham gia chơi hụi và không nợ hụi bà L chỉ là lời nói một phía từ bà L, không có chứng cứ gì để chứng minh. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định bà N có tham gia chơi hụi và còn nợ bà L số tiền là 238.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
    3. [2.3] Xét đơn ngày 05/12/2023 của ông Lê Văn S về việc yêu cầu giám định lại chữ viết và chữ ký của bà Nguyễn Thị Hồng N trên “tờ cam kết” ngày 05/3/2021. Xét thấy, ngày 07/6/2023 Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm đã ra quyết định giám định chữ ký và chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng N trên “tờ cam kết” ngày 05/3/2021 và ngày 08/8/2023 đã có kết luận giám định của Phòng K công an tỉnh S. Sau khi có kết luận Tòa án thị xã N cũng đã thông báo cho các đương sự biết kết quả giám định, ông Lê Văn S đã nhận được thông báo nhưng trong thời gian thông báo ông S không có ý kiến gì đối với kết quả giám định. Nay ông S có yêu cầu giám định lại nhưng không có căn cứ nào để chứng minh kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh S là không chính xác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu giám định lại của ông Lê Văn S theo quy định tại khoản 5 Điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự.
    4. [2.4] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Chúc L về việc yêu cầu ông Lê Văn S có nghĩa vụ liên đới cùng bà Nguyễn Thị Hồng N trả tiền hụi cho bà. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án bà N và ông S không thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi và bà L cung cấp được chứng cứ là là N có tham gia chơi hụi và thiếu bà L số tiền theo tờ cam kết ngày 05/3/2021. Theo tờ cam kết thể hiện chỉ có bà N là người ký, ông S không ký và trong quá trình giải quyết vụ án bà N, ông S không thừa nhận và bà L không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà N sử dụng tiền hụi để lo cho chi phí, phục vụ nhu cầu thiết yếu cho gia đình. Ngoài tờ cam kết do bà N ký nhận thì bà L không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh ông S có cùng tham gia chơi hụi của bà L và sử dụng số tiền này để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình nên cấp sơ thẩm không có căn cứ buộc ông S cùng có trách nhiệm trả là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
  3. [3] Từ những phân tích trên thấy rằng kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Hồng N và nguyên đơn Nguyễn Thị Chúc L là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  4. [4] Đề nghị của vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn S là không có căn cứ Hội đồng xét xử không chấp nhận như phân tích trên.
  5. [4] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn không được chấp nhận, bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên các đương sự có kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, đối với bị đơn Nguyễn Thị Hồng N là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Chúc L, bị đơn Nguyễn Thị Hồng N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, như sau:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 91, 147, Điều 161, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 471 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 16, Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N có trách nhiệm trả tiền nợ hụi còn thiếu với số tiền là 238.000.000 đồng (Hai trăm, ba mươi tám triệu đồng).

    Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Chúc L số tiền nợ hụi 238.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hằng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chúc L về việc yêu cầu ông Lê Văn S liên đới cùng với bà Nguyễn Thị Hồng N trả tiền nợ hụi còn thiếu cho bà L.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng N được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 và danh mục lệ phí, án phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Thị Chúc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận. Tiền án phí của bà L được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.350.000 đồng tiền. Như vậy, bà L được trả lại 7.050.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006544 ngày 08/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Chi phí giám định: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu là 1.500.000 đồng do bà Nguyễn Thị Chúc L đã nộp tạm ứng nên bà Nguyễn Thị Hồng N có trách nhiệm trả lại cho bà L số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị Hồng N được miễn án phí phúc thẩm. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Chúc L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà L đã nộp theo biên lai thu số: 0011077, ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND thị xã Ngã Năm;
  • - VKSND thị xã Ngã Năm;
  • - Chi cục THADS thị xã Ngã Năm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu TDS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Tôn Thị Thanh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-PT ngày 12/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 14/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Chúc L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng Ng trả số tiền hụi còn thiếu sau khi hốt hụi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger