Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS-PT

Ngày: 09/01/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Bà Trần Thị Thanh Giang

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18/12/2023 và 09/01/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 428/TLPT-DS ngày 16/11/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 519/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965; địa chỉ: Số C ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Đỗ Vinh Q - Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Thạch Sa H, sinh năm: 1999; địa chỉ liên hệ: Số A, đường N, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 15 tháng 9 năm 2023); có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Phạm Hồng D - Công ty TNHH D2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1956; xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1967; vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1969; vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1977; có mặt.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

  1. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; văng mặt.
  2. Bà Dương Thị D1, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ

Người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị D1: Ông Dương Quốc K; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 29/5/2023); có mặt.

  1. Ông Dương Quốc K, sinh năm 1988; có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1988; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Huỳnh A; xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

  1. Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thanh T1 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (Theo văn bản ủy quyền số: 2154/UQ-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2023); xin xét xử vắng mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị Lệ H4, sinh năm 1953; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người làm chứng:

  1. Bà Đặng Thị Y, sinh năm 1938; xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1951; xin xét xử vắng mặt.
  3. Ông Trần Thanh B, sinh năm 1950; xin xét xử vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1954; xin xét xử vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1949; xin xét xử vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1949; xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S trình bày: Vào năm 1995, ông được mẹ là cụ Nguyễn Thị Sáu t cho phần phần đất 01 cái bờ có kích thước khoảng ngang 12m dài 70m, diện tích khoảng 870 m² thuộc một phần thửa đất số 555, tờ bản đồ số 4, đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Việc tặng cho đất, cụ S1 chỉ nói miệng nhưng các anh, chị, em trong nhà đều biết. Phần đất này ông và gia đình đã sử dụng ổn định, liên tục và cất nhà sinh sống từ năm 1995 đến nay.

Về nguồn gốc đất: Trước năm 1960 cha mẹ của ông là cụ Nguyễn Văn Đ1 (chết năm 1989) và cụ Nguyễn Thị S2 (chết năm 2005) mua của cụ Nguyễn Thị S3 (chết) phần diện tích 02 công tầm 3 m để sử dụng, quá trình sử dụng đất của cha mẹ ông là ổn định, liên tục nhưng cha mẹ ông không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, cha mẹ ông cũng phân chia toàn bộ diện tích đất trên cho 03 người là: anh Nguyễn Văn B1 (chết năm 2019), anh Nguyễn Văn P và ông mỗi người được hưởng một phần bờ là diện tích đang sử dụng hiện nay. Ông được chia phần diện tích khoảng 870 m² từ năm 1995, ông cất nhà ở ổn định, đến năm 2007 ông cất lại nhà kiên cố, năm 2019 ông mở rộng thêm nhà kiên cố cho gia đình ông sử dụng.

Năm 2014 ông P đi xác lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất bao trùm luôn phần diện tích của ông đang sử dụng nêu trên, ông không hay biết, đến năm 2018 ông mới hay biết việc này. Cha mẹ ông có 09 người con chung gồm: ông Nguyễn Văn H5 (chết từ nhỏ), ông Nguyễn Văn B1 (chết năm 2019), bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thị H3. Khi chết cụ Đ1, cụ S2 không để lại di chúc. Ông xác định không tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, tuy nhiên đề nghị xem xét về nguồn gốc đất là của cụ Đ1, cụ S2 mua của cụ S3, ông khẳng định đất không phải do ông P khai phá. Trên phần đất tranh chấp hiện ông và gia đình cùng sử dụng gồm: Bà Dương Thị D1, ông Dương Quốc K, bà Nguyễn Thị Diễm M và bà Nguyễn Thị Huỳnh A.

Nay ông yêu cầu công nhận và ổn định cho ông quyền quản lý sử dụng đất với diện tích đất trên. Yêu cầu kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số: CH 01404 cấp ngày 03/7/2014 của ông Nguyễn Văn P để điều chỉnh cấp giấy chứng nhận phần đất tranh chấp cho ông.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông không đồng ý với trình bày và yêu cầu của phía nguyên đơn. Ông có yêu cầu phản tố trong vụ án để yêu cầu ông S và gia đình ông S gồm bà Dương Thị D1, ông Dương Quốc K, bà Nguyễn Thị Diễm M và bà Nguyễn Thị Huỳnh A có trách nhiệm trả cho ông P phần đất tranh chấp là 801,1m² thuộc một phần thửa đất số 555 nêu trên; ông P đồng ý bồi thường tài sản cho ông S giá trị tài sản theo giá đã định của Công ty T3 gồm: Nhà Chính, hồ nước, bồn chứa nước, nhà bếp, mái che cùng cây trồng trên đất; ông P không đồng ý bồi thường hàng rào (mặt trước), hàng rào (mặt trái từ cổng nhìn vào), hàng rào bên trái, hàng rào bên phải của phần đất tranh chấp.

Về nguồn gốc đất: là do ông khai phá mà có, ông sử dụng ổn định, liên tục đến nay. Do ông S không có chỗ ở nên ông cho ở nhờ và chỉ đồng ý cho cất nhà tạm bợ để sinh sống, ông không nhớ thời gian cho ở nhờ nhưng xác định ông S không phải cất nhà sinh sống từ năm 1995. Do ông không ở nhà thường xuyên nên sau khi ông S tự cất nhà kiên cố, khi hay ông P có báo chính quyền địa phương ngăn cản việc xây dựng (việc ngăn cản có UBND xã T biên bản nhưng ông P không nhớ rõ thời gian và không lưu giữ văn bản này). Ông P khẳng định không có việc cụ S2 cho đất cho ông S vì đất là của ông.

Ông Dương Quốc K (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) trình bày: Ông là con rễ của ông S, ông đang cùng với ông S sử dụng phần đất tranh chấp. Ông thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông S. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án mà giao toàn bộ cho ông S tranh chấp, quyết định. Đối với tư cách đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị D1 thì xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Bà Nguyễn Thị Diễm M (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có lời khai: Bà là con ruột của ông S và bà D1, bà đang cùng với ông S sử dụng phần đất tranh chấp. Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông S. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án mà giao toàn bộ cho ông S tranh chấp, quyết định.

Bà Nguyễn Thị G (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có lời khai: Bà là chị ruột của Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn P, cha mẹ bà là cụ Nguyễn Văn Đ1, cụ Nguyễn Thị S2 (chết 2005). Theo bà biết thì nguồn gốc đất tranh trên là của cha, mẹ bà nhận chuyển nhượng mà được. Việc cụ Đ1, cụ S2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa thì bà không biết. Cụ Đ1 và cụ S2 chết không có để lại di chúc. Tại thửa đất này bà là người bỏ công sức tôn tạo và bồi đắp rất nhiều. Việc ông P cho rằng đất của ông khai hoang để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng. Theo bà biết ông S đã cất nhà sinh sống trên đất tại thửa 555 khoảng 30 năm; Phần diện tích ông S sử dụng là diện tích sử dụng hiện hữu thực tế. Việc này người dân địa phương đều biết rõ. Bà xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án, không yêu cầu chia thừa kế. Bà yêu cầu Toà án giải quyết cho Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn P cùng chia nhau sử dụng. Về nền nhà và đất ông S đang sử dụng là được mẹ của bà là cụ Nguyễn Thị Sáu t cho ông Nguyễn Văn S. Thời điểm ông S cất nhà cũng như qua nhiều lần sửa chữa thì ông Nguyễn Văn P không có ngăn cản cũng như tranh chấp.

Ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Ông là con của cụ Đ1 và cụ S2. Trước đây cha mẹ ông có mua của cụ S3 (đã chết) 02 công đất để sử dụng trồng trọt. Cha mẹ cũng đã phân chia toàn bộ diện tích đất trên cho 3 người anh (Nguyễn Văn B1, sinh năm 1953, chết năm 2019), Nguyễn Văn P, sinh năm 1963, Nguyễn Văn S, sinh năm 1965, mỗi người một cái bờ là phần diện tích sử dụng ổn định từ trước đến nay. Hiện tại phần đất trên Nguyễn Văn P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay nhờ cơ quan Tòa án xem xét điều chỉnh và cấp lại một phần diện tích đất mà anh Nguyễn Văn S đã sử dụng từ trước đến nay để được sửa chữa và cất lại nhà ở. Ông xác định không có yêu cầu chia thừa kế và cũng không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Bà Nguyễn Thị Huỳnh A trình bày: Bà thống nhất đồng ý toàn bộ với ý kiến, yêu cầu khởi kiện của cha mà là ông Nguyễn Văn S. Bà xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án và cũng không có yêu cầu gì khác.

Bà Nguyễn Thị H3 trình bày: Bà là con của cụ Đ1, cụ S2. Lúc còn sống mẹ của bà có mua của cụ S3 (đã mất) 02 công đất để canh tác. Sau này các anh lập gia đình ra ở riêng, cha mẹ của bà đã chia phần đất trên cho ba người anh là Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S mỗi người một cái bờ. Năm 1979 ông B1 dựng nhà và canh tác phần đất cha mẹ cho. Sau này do việc đi lại, học hành của các con khó khăn nên anh bà đã dời nhà ra vàm và đã trồng cây ở phần đất trên. Còn ông Nguyễn Văn P cũng đã cất nhà và canh tác phần đất cha mẹ cho. Đến năm 1995 ông Nguyễn Văn S cũng về cất nhà và canh tác phần đất cha mẹ cho. Năm 2022 ông S đi làm ăn xa về định sửa chữa nhà thì mới phát hiện phần đất trên ông Nguyễn Văn P đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay nhờ Tòa án xem xét điều chỉnh và cấp lại một phần diện tích mà ông Nguyễn Văn S đã sử dụng từ trước đến nay để được cất lại nhà ở.

Bà Nguyễn Thị Lệ H4 trình bày: Bà là chị dâu thứ ba của ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn P, chồng của bà là Nguyễn Văn B1 (chết 2019), giữa bà với ông S, ông P từ trước đến nay không có mâu thuẫn gì. Nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông S, với ông P là của cha mẹ chồng là cụ Đ1 và cụ S2 mua của cụ S3. Mua từ khi nào và có làm giấy tờ gì không thì bà không rõ, cha mẹ chưa kê khai đứng giấy. Đến khi bà về làm dâu năm 1976 thì cha mẹ tặng cho vợ chồng bà 01 cái bờ (không đo đạc kích thước, diện tích, không lập giấy tờ gì chỉ nói miệng) để canh tác, sinh sống cho đến nay nhưng chưa tách giấy (thời điểm tặng cho vợ chồng bà thì cụ Đ1, cụ S2 cũng chưa được cấp giấy). Sau đó ông S lập gia đình, mẹ chồng có tặng cho ông S 01 cái bờ (không có đo đạc diện tích để cắm cọc ranh; không lập giấy tờ gì chỉ nói miệng), khi đó cha chồng đã chết). Việc cụ S2 tặng cho ông S phần đất mặc dù không lập giấy tờ gì nhưng anh, chị, em trong nhà đều biết và ông S trực tiếp sử dụng, canh tác đến nay nhưng chưa kê khai, đứng giấy được. Đến khi ông P đứng tên quyền sử dụng đất thì bà, ông S không hay biết dù đang trực tiếp sử dụng đất. Bà cũng không thấy ai đến đo đạc để làm thủ tục cấp giấy cho ông P. Nay tranh chấp giữa ông S, ông P, bà yêu cầu Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu của ông S do ông S được mẹ cho và sử dụng ổn định. Trước đây bà không yêu cầu nhưng nay bà yêu cầu ông P tách thửa sang tên lại cho bà phần đất của cha mẹ chồng cho vợ chồng bà.

Tại công văn số 2314/UBND-TNMT ngày 05 tháng 9 năm 2023 cũa Ủy ban nhân dân huyện T trình bày: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH01404 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 03 tháng 7 năm 2014 cho ông Nguyễn Văn P tại thửa 555, diện tích 2.303,6 m² mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ là đúng quy định. Theo văn bản lấy ý kiến của Khu dân cư được Ủy ban nhân dân xã T ký xác nhận ngày 27 tháng 6 năm 2013 và Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất đai xã T thể hiện ông Nguyễn Văn P đang sử dụng thửa 555, diện tích 2.303,6 m² mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Ông Nguyễn Văn T2 (người làm chứng) có lời khai: Hiện nay phần đất con ông Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn P đang sử dụng là được cụ Đ1 mua từ cụ S3 .

Ông Nguyễn Văn K1 (người làm chứng) có lời khai: Theo ông biết đất này là bà Nguyễn Thị S3 cùng ấp bán cho 04 người: Ông Bảy N, ông út Ơ, ông Đào G1 và cụ Đ1, còn lại là con ruột cụ S3 đang ở. Từ năm 1975 đến nay canh tác không gián đoạn, đến năm 1995 con cụ Đ1 là ông S ở cho đến nay là sự thật.

Ông Trần Thanh B (người làm chứng) có lời khai: Ông là con của cụ S3 có bán đất này cho cụ Đ1 cùng ngụ ấp T, xã T là sự thật.

Bà Nguyễn Thị P1 (người làm chứng) có lời khai: Bà là con ông Nguyễn Văn N1 có mua miếng đất của cụ S3 và ông út Ơn, ông Đào G1, cụ Đ1 là cùng mua một chủ đất.

Bà Đặng Thị Y (người làm chứng) có lời khai: Bà ở ngang sông đối diện với miếng đất của cụ Đ1 mua lại của cụ S3 cho các con đang sử dụng là Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn S.

Ông Nguyễn Tấn Đ (người làm chứng) có lời khai: Đất này do cụ Đ2 cụ S2 là cha mẹ của ông Nguyễn Văn S có mua miếng đất của cụ S4 năm 1975 đến nay canh tác liên tục không bỏ hoang.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 112/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P.

Buộc ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm tách thửa sang tên cho ông Nguyễn Văn S diện tích đất 801,1 m², thuộc một phần thửa 555, tờ bản đồ số 04, đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ tại vị trí A của bản trích đo địa chính.

Ông Nguyễn Văn S được sử dụng công trình, vật kiến trúc và cây trồng trên đất gồm: Nhà chính diện tích 49,2 m² kết cấu nền gạch men, vách xây gạch, mái tôn, trụ bê tông cốt thép có cừ; Hồ nước: Thể tích 8,64 m³; Bồn chứa nước: 01 bồn trụ 20 x 20, cao 3m, rộng 1,1m; Nhà bếp: Diện tích 33,72 m² kết cấu khung tiền chế, nền láng bê tông, vách tôn, mái tôn; Mái che: Diện tích 10,92 m² kết cấu nền láng bê tông đổ sẵn, mái tôn, không vách; Hàng rào (mặt trước): Dài 8,7 m, xây tường lửng 20 x 20 cao 1 m, mặt trước ốp gạch men, trụ bê tông cốt thép 20 x 20 ốp gạch men xung quanh, khung hàng rào sắt hộp 10 x 40, cao 1,2 m; Hàng rào bên trái (từ cổng nhìn vào): Dài 8,4 m xây gạch 20 x 20, cao 1 m tô phần vách bên trong, trụ 20 x 20 bê tông cốt thép; Hàng rào bên trái: Dài 31 m, cao 2,4 m xây gạch đã tô bên trong; Hàng rào bên phải: Dài 15,4 m, xây gạch cao 2,4 m phần vách chưa tô; 06 cây dừa loại A, 03 cây dừa loại B và 02 cây vú sữa loại A.

Vị trí thửa đất được xác định theo bản trích đo địa chính số : 204/TTKTTNMT ngày 16/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C (Đính kèm bản án).

Kiến nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01404 ngày 03/7/2014 và cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn P trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Dành cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B1 một vụ kiện dân sự khác liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn P (nếu có).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu, chi phí đo đạc thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử ông Nguyễn Văn P đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Phạm Hồng D bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P phát biểu quan điểm: Ông P kháng cáo yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm vì những lý do sau đây: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thẩm quyền xét xử, ông S khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai giải quyết là không đúng thẩm quyền. Lúc đầu Tòa án sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân huyện T vào tham gia với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan sau mới đưa là không đúng quy định. Cấp sơ thẩm không công bố, công khai chứng cứ là vi phạm theo khoản 8, Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuyên án vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về nội dung: Phần đất tranh chấp cho rằng của cụ Đ1-cụ S2 mua của cụ S3 nhưng giấy tờ không thể hiện ai là chủ quyền ? diện tích bao nhiêu không rõ, giá tiền mua bán là bao nhiêu ?. UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận cho ông P không ai tranh chấp hay ngăn cản. Sổ mục kê địa phương không thể hiện tên cụ Đ1 và cụ S2 có đăng ký hay sử dụng đất này. Bị đơn đã đăng ký và xác lập quyền sử dụng đất trước năm 1990. Bản án sơ thẩm không xem xét toàn bộ nội dung vụ việc. Đề nghị Hội đồng xét áp dụng khoản 3, Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 hủy toàn bộ bản trên.

Luật sư Đỗ Vinh Q bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: UBND huyện T trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P là đúng trình tự thủ tục nhưng việc cấp này không đo đạc thực tế, không ký tứ cận, không xác định nguồn gốc đất. Thực tế ông S đã cất nhà ở từ năm 1995.Các anh chị em trong gia đình, và bà con hàng xóm láng giềng đều cho rằng đất này của cha mẹ ông S mua của cụ S3. Con ruột của cụ S3 đều xác định đất này đã bán cho cụ Đ1 và cụ S2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn ông S yêu cầu công nhận và ổn định cho ông S được quyền quản lý sử dụng phần đất diện tích 801,1m², loại đất trồng cây lâu năm, thuộc mộtphần thửa đất số 555 tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ có nguồn gốc do cha mẹ là cụ Nguyễn Văn Đ1 (chết năm 1989) và cụ Nguyễn Thị S2 (chết năm 2005) cho ông S từ năm 1995 quản lý, sử dụng và cất nhà ở. Bị đơn ông P cho rằng nguồn gốc đất trước năm 1982 ông có thấy cha mẹ ông làcụ Đống, cụ S2 canh tác. Sau năm 1982, ông không thấy cha mẹ sử dụng mà bỏ đất hoang nên ông khai phá và sử dụng phần đất này cho đến nay đã được cấp giấy chứng nhận, yêu cầu ông S phải tháo dỡ di dời công trình vật kiến trúc trả lại phần đất tranh chấp.

Xét thấy, theo lời khai của các ông bà Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị Lệ H4 (vợ ông Nguyễn Văn B1) là những người con của cụ Đ1, cụ S2 và là chị, em ruột của ông S, ông P đều khai nhận nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 555 là của cha mẹ mua của cụ Nguyễn Thị S3; phù hợp với lời khai của con cụ S3 là ông Trần Thanh B và những người làm chứng khác. Ông P cho rằng cho ông S cất căn nhà tạm ở nhờ trên phần đất tranh chấp nhưng theo lời khai của chị, em ruột của ông S, ông P thì phần đất cha mẹ nhận chuyển nhượng chưa kê khai đứng tên. Khi cụ Đ1 cụ S2 còn sống có cho ông Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S mỗi người một phần đất, không đo đạc kích thước, diện tích, không lập giấy tờ, nhưng sử dụng ở ổn định trên thực tế cho đến nay.

Việc cụ S2 tặng cho ông S sau khi cụ Đ1 đã chết, mặc dù không lập giấy tờ nhưng có tặng cho trên thực tế; các anh, chị, em của ông S, P đều biết và không có ý kiến phản đối. Ông S trực tiếp sử dụng, cất nhà sinh sống từ năm 1995, sau đó xây nhà kiên cố năm 2007 và sửa chữa nhà vào năm 2019 không có sự phản đối hay ngăn cản từ ông P hay địa phương. Từ đó, xác định phần đất thuộc thửa 555 có nguồn gốc của cụ Đ1 cụ S2, nhưng khi xét duyệt hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn P tại số thửa 555, diện tích 2.303m²đất LUA vào ngày 06/5/2014 Hội đồng đăng ký đất đai xã T chưa xác minh rõ nguồn gốc thửa đất, tại thời điểm xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P khai đất khai hoang nhưng trên thực tế có ông S sử dụng và cất nhà trên đất từ trước được các anh chị em của các đương sự và con chủ đất cũ thừa nhận nguồn gốc đất của cụ Đ1 cụ S2. Vì vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P là chưa phù hợp với thực tế. Nguyên đơn yêu cầu công nhận và ổn định quản lý sử dụng đất với diện tích 801,1m² thuộc mộtphần thửa đất số 555, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 03/7/2014 cho ông Nguyễn Văn P để điều chỉnh cấp giấy chứng nhận phần đất trên cho ông Nguyễn Văn S là có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông P về việc buộc gia đình ông S phải di dời trả lại đất.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấpnhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P.Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của TAND huyện Thới Lai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Vào 1995, ông được mẹ là cụ Sáu tặng cho phần phần trên anh chị trong gia đình đều biết. Ông cất nhà ở từ đó cho đến năm 2007 xây nhà kiên cố, năm 2019 thì mở rộng thêm. Anh chị em trong nhà không ai tranh chấp phần đất này. Năm 2014 ông P đi xác lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất bao trùm luôn phần diện tích của ông đang sử dụng nêu trên, ông không hay biết, đến năm 2018 ông mới hay biết việc này. Nay, ông yêu cầu công nhận và ổn định cho ông quyền quản lý sử dụng đất với diện tích đất trên. Bị đơn ông P không đồng ý với trình bày và yêu cầu của phía nguyên đơn. Ông có yêu cầu phản tố yêu cầu nguyên đơn trả phần đất tranh chấp là 801,1m² thuộc một phần thửa đất số 555 nêu trên; ông P đồng ý bồi thường một phần giá trị tài sản cho ông S. Phía những người có quyền và nghĩa vụ liên quan là anh em ruột của ông S và ông P đều cho rằng đất là của cha mẹ chuyển nhượng của cụ S3 và phân chia cho 03 người là ông S, ông P và ông B1 (nay đã chết), tất cả anh, chị, em không tranh chấp thừa kế phần đất này.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguồn gốc đất là của cụ Đ1 và cụ S2 chuyển nhượng từ cụ S3 từ trước năm 1975. Ông Nguyễn Thanh B2 là con của cụ Nguyễn Thị S3 cũng khai trùng khớp nội dung là phần đất ông S và ông P đang sử dụng là cụ S2, cụ Đ1 mua (nhận chuyển nhượng) từ cụ S3. Bị đơn cho rằng có cho nguyên đơn cất nhà tạm bợ để sinh sống trên phần đất đang tranh chấp này nhưng thực tế là ông S đã cất nhà sinh sống từ năm 1995, sau đó xây nhà kiên cố năm 2007 và lần sửa chữa nhà lần sau vào năm 2019 nhưng phía ông P không phản đối hay ngăn cản, chính quyền địa phương đã cấp sổ hộ khẩu gia đình, có cấp số nhà tại căn nhà này cho ông S. Mặc dù không giấy tờ thể hiện nhưng khi còn sống cụ Đ1 và cụ S2 đã tặng cho 3 người con gồm Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn S mỗi người một phần đất tại thửa 555 này nhưng không có lập giấy tờ gì mà chỉ chia thực tế, các đồng thừa kế của cụ Đ1 đều biết nhưng không ai phản đối hay có tranh chấp. Đến năm 2005 cụ S2 chết, các đồng thừa kế của cụ S2 cũng không ai tranh chấp chia thừa kế tại thửa đất này mà thống nhất theo việc sử dụng thực tế của ông S, ông P và ông B1.

Xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn P tại số thửa 555, diện tích 2.303 m² đất LUA ngày 06/5/2014 là chưa xác minh rõ nguồn gốc thửa đất, bản chất của vấn đề là cụ Đ1 và cụ S2 nhận chuyển nhượng thửa đất 555 của cụ S3, cụ S2 có tặng cho ông S một phần đất gia đình ông S sử dụng và cất nhà, đến năm 2005 cụ S2 chết. Đáng lẽ, khi xét đề nghị cấp giấy chứng nhận cho ông P, Hội đồng đăng ký đất đai xã T phải xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ1, cụ S2 để ghi nhận rõ quan điểm có từ chối nhận di sản hay không, có tranh chấp hay không và làm rõ việc ông S sử dụng trên phần đất này là ở nhờ, được tặng cho hay nhận chuyển nhượng.

Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P tại thửa đất 555 là chưa đảm bảo tính khách quan về nguồn gốc của thửa đất. Ông P khai nguồn gốc đất do khai hoang để được cấp giấy chứng nhận lần đầu trong khi có tồn tại việc sử dụng phần nhà và đất trên thửa đất này là không đúng thực tế. Ủy ban nhân dân huyện T chỉ kiểm tra về mặt thủ tục pháp lý do Hội đồng đăng ký đất đai xã chuyển đến và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P nên trường hợp giải quyết về nội dung thì cần kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện T thu hồi giấy chứng nhận và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P và cấp lại cho ông S là đúng thực tế. Đất tại thửa 555 là di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ S2, tuy nhiên các đương sự không có ai tranh chấp di sản thừa kế liên quan đến thửa đất này và đồng ý cho ba người (ông S, ông P và ông B1) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét bà Nguyễn Thị Lệ H4 là vợ của ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) có lời khai tại Tòa án là xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm bà trình bày có yêu cầu tách phần diện tích cha mẹ tặng cho ông Nguyễn Văn B1. Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét và giải quyết là đúng quy định. Do đó, dành cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B1 một vụ kiện dân sự khác liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn P (nếu có).

[4] Xét yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P nhận thấy: Tại số thửa đất số 555 của Hội đồng đăng ký đất đai xã T trước đây cấp cho ông P không thực hiện đúng quy định pháp luật như: Không xem xét, không xác minh làm rõ việc ông S cất nhà và sử dụng phần đất tranh chấp hiện nay cũng như nguồn gốc đất nên chưa đảm bảo quyền lợi của ông S. Do đó yêu cầu phản tố của ông P buộc ông S cùng các thành viên trong gia đình ông S có trách nhiệm trả diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 801,1m² và thối hoàn giá trị công trình cùng cây trồng trên đất là không có cơ sở để xem xét chấp nhận. Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận phản tố này là có cơ sở.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn P là người cao tuổi nên được miễn án phí.

[6] Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá: Cần buộc ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm chịu nộp theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Đáng lý ra ông P phải chịu nhưng do là người cao tuổi nên được miễn.

[8] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 5, Điều 26, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • Điều 219 và Điều 223 của Bộ luật dân sự 2005;
  • Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn P.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P.

Buộc ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm tách thửa sang tên cho ông Nguyễn Văn S diện tích đất 801,1m², thuộc một phần thửa 555, tờ bản đồ số 04, đất toạ lạc ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (tại vị trí A của bản trích đo địa chính).

Ông Nguyễn Văn S được sử dụng công trình, vật kiến trúc và cây trồng trên đất gồm: Nhà chính diện tích 49,2m² kết cấu nền gạch men, vách xây gạch, mái tôn, trụ bê tông cốt thép có cừ; Hồ nước: Thể tích 8,64m3; Bồn chứa nước: 01 bồn trụ 20 x 20, cao 3m, rộng 1,1m; Nhà bếp: Diện tích 33,72m² kết cấu khung tiền chế, nền láng bê tông, vách tôn, mái tôn; Mái che: Diện tích 10,92m² kết cấu nền láng bê tông đổ sẵn, mái tôn, không vách; Hàng rào (mặt trước): Dài 8,7m, xây tường lửng 20 x 20 cao 1m, mặt trước ốp gạch men, trụ bê tông cốt thép 20 x 20 ốp gạch men xung quanh, khung hàng rào sắt hộp 10 x 40, cao 1,2m; Hàng rào bên trái (từ cổng nhìn vào): Dài 8,4m xây gạch 20 x 20, cao 1m tô phần vách bên trong, trụ 20 x 20 bê tông cốt thép; Hàng rào bên trái: Dài 31m, cao 2,4m xây gạch đã tô bên trong; Hàng rào bên phải: Dài 15,4m, xây gạch cao 2,4m phần vách chưa tô; 06 cây dừa loại A, 03 cây dừa loại B và 02 cây vú sữa loại A.

Vị trí thửa đất được xác định theo bản trích đo địa chính số : 204/TTKTTNMT ngày 16/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C (Đính kèm bản án).

Kiến nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01404 ngày 03/7/2014 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn P trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Dành cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B1 một vụ kiện dân sự khác liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn P (nếu có).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn P. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền tạm ứng án phí 2.457.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005873 ngày 02 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai.

Ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S tiền tạm ứng án phí 2.740.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0005765 ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai.

Về chi phí đo đạc thẩm định, định giá: 4.800.000 đồng ông S đã tạm nộp và chi xong nên ông P phải hoàn trả cho ông S 4.800.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông P được miễn toàn bộ do là người cao tuổi.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND huyện Thới Lai;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 14/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ Nguyen Van S - BĐ Nguyen Van P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger