Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 14/2022/HS - ST

Ngày 22 - 11 - 2022

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Quàng Văn Tiện.
  2. Ông Quàng Văn Biên.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La:

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc nhà Tạm giữ Công an huyện Sông Mã: Ông Lường Cao Thiên, ông Lường Văn Hoàng.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2022/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Văn A - Sinh năm 1978; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản B, xã K, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lù Văn D (đã chết) và bà Lù Thị G (đã chết); Bị cáo có vợ là Lù Thị V và 02 con (Con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/4/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Q xử phạt 60 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 29/3/2017 bị Công an huyện M xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 23/8/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền A, nghĩa vụ liên quan: Lù Thị V, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản B, xã K, huyện M, tỉnh Sơn La. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút ngày 23/8/2022 tổ công tác Công an huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại khu vực bản L1, xã K, huyện M phát hiện Lù Văn A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu tại lòng bàn tay trái của A 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 04 viên nén màu hồng và chất bột liên kết màu trắng (A khai là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ niêm phong vật chứng; ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu xe không gắn biển kiểm soát, số khung RPEWCHIPE9A037317.

Ngày 24/8/2022 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 04 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến thu giữ có khối lượng 0,40gam. Trích 01 viên có khối lượng là 0,10 gam để làm mẫu gửi giám định ký hiệu là L1. Còn lại 03 viên có khối lượng là 0,30 gam ký hiệu là K1. Số bột liên kết màu trắng có khối lượng là 0,11 gam. Trích 0,05 gam để làm mẫu gửi giám định ký hiệu là L2. Còn lại 0,06 gam ký hiệu là K2.

Kết luận giám định số 1441/KL-KTHS ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu L2 là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định định là 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,40gam, loại Methamphetamine và 0,11 gam loại Heroine”.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 23/8/2022, A mang theo 200.000₫ một mình điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến bản X, xã K, huyện M để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến bản X, A gặp người phụ nữ dân tộc Mông không rõ danh tính đang đi bộ ven đường, A dừng xe lại trò chuyện hỏi mua 200.000 đồng (gồm cả Heroine và Hồng phiến) thì được người phụ nữ nhận lấy tiền, rồi đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho A 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine và 04 viên Hồng phiến. A nhận lấy gói ma túy cầm ở lòng bàn trái rồi điều khiển xe đi xuống UBND xã K để đi tiêm Vắc-xin Covid-19. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi A đến địa phận bản Lướt, xã K, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác của Công an huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ, niêm phong vật chứng, tạm giữ phương tiện nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 151/CT-VKSSM ngày 18 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lù Văn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lù Văn A từ 20 – 26 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon; trả lại 01 xe mô tô cho người có quyền A, nghĩa vụ liên quan. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và người có quyền A, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa người có quyền A, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là vợ của bị cáo, chiếc xe bị thu giữ trong vụ án là tài sản chung của vợ chồng và là phương tiện duy nhất của gia đình, khi bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy chị không biết, chị đề nghị HĐXX xem xét trả lại xe cho chị.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với ý kiến của người có quyền A, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến tranh luận gì, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền A, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 23/8/2022 đối với Lù Văn A cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon chứa chất bột màu trắng và 04 viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 1441/KL-KTHS ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,40 gam, loại Methamphetamine và 0,11 gam loại Heroine”.

- Lời khai bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 23/8/2022 đã đi mua được số ma túy nêu trên của một người không quen biết với giá 200.000đ nhằm mục đích để sử dụng, khi đang trên đường vận chuyển trở về để sử dụng dần thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/8/2022 bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,11 gam Heroine và 0,40 gam Methamphetamine (Tổng khối lượng 02 chất là 0,51 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

[4] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị kết án phạt tù nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo và gia đình không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định được đựng trong túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon là những vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô không biển kiểm soát xác định là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội vợ bị cáo không biết nên cần trả lại.

[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Về người phụ nữ bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lù Văn A phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Lù Văn A 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam Heroine được đựng trong 01 túi nilon, 0,30 gam Methamphetamine được đựng trong 01 túi nilon, 01 mảnh nilon, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 081994.

    Trả lại cho người có quyền A, nghĩa vụ liên quan: 01 xe mô tô không có biển kiểm soát, xe đã cũ nát, không rõ nhãn hiệu, màu sơn xanh, có số khung trùng số máy 037317.

    Theo Quyết định chuyển vật chứng số 218/QĐ – VKS ngày 18/10/2022 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/10/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền A, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2022).

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - VKSND huyện
  • - Công an huyện;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL, NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2022/HS - ST ngày 22/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 14/2022/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger