Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B

Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST
Ngày : 28/01/2021
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Bình
  2. Bà Nguyễn Thị Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên toà: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28/01/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2020/QĐXX-ST ngày 14/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐ-ST ngày 04/01/2021 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT: Thôn Thùng Thình, xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B.

*Bị đơn: Chị Hoàng Thị Th, sinh năm: 1976 (vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT: Thôn Thùng Thình, xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B (Hiện đang lao động tại nước ngoài).
Địa chỉ cuối cùng của chị Hoàng Thị Th tại Việt Nam là thôn Thùng Thình, xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 26/10/2020, nguyên đơn là anh Trần Văn S trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị Th về chung sống với nhau vào tháng 11/1995 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/7/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống hòa thuận, sau do điều kiện kinh tế vợ chồng đã thống nhất để vợ anh đi xuất khẩu lao động từ năm 2006 đến nay. Trong khoảng thời gian đó, vợ chồng anh bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống gia đình và nhiều vấn đề khác. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Chị Th có trở về nước 2 lần nhưng chỉ về nhà mẹ đẻ trong khoảng thời gian 10 ngày lại tiếp tục đi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị Th.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị Th có 02 con chung là cháu Trần Văn H, sinh ngày 23/8/1996 và cháu Trần Thị Hồng V, sinh ngày 12/6/2004. Hiện nay cháu Trần Văn H đã trưởng thành anh không đề nghị giải quyết. Cháu Trần Thị Hồng V hiện đang ở với chị Th và ông bà ngoại. Ly hôn anh đề nghị giao cháu Trần Thị Hồng V cho Hoàng Thị Thắm nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh S còn trình bày: Hiện nay chị Th vẫn ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của chị Th ở nước ngoài anh không cung cấp được cho Tòa án được vì anh không liên lạc được với chị Th, chị Th vẫn liên lạc về gia đình nhưng bố mẹ đẻ chị Th là ông Hoàng Văn Xây và bà Đinh Thị Mây, trú tại: Xóm Khuyên Quéo, xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B cũng không cung cấp địa chỉ nên anh không biết để cung cấp cho Tòa án.

Do tính chất công việc nên anh không thể tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh và chị Th được, nên anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh và chị Hoàng Thị Th.

Bị đơn chị Hoàng Thị Th không có bản tự khai.

Ngày 30/10/2020 và ngày 23/11/2020 Tòa án nhân dân tỉnh B đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị Hoàng Thị Th là bà Đinh Thị Mây, sinh năm 1951, trú tại: Thôn Khuyên Quéo, xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B để giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bà M. thông báo cho chị Th biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh B đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Trần Văn S và chị Hoàng Thị Th; yêu cầu chị Th viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu bà M. cung cấp địa chỉ cụ thể của chị Th ở nước ngoài. Tuy nhiên qua 2 lần làm việc bà M. vẫn giữ nguyên quan điểm là chị Th ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng bà không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị Th ở nước ngoài cho Tòa án, vì đây là việc cá nhân của chị Th, đồng thời bà cũng không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị Th biết để chị Th gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của chị Th gửi về.

Tại đơn trình bày bà Đinh Thị M. trình bày: Bà là bà ngoại của cháu Trần Thị Hồng V, sinh ngày 12/6/2004, kể khi chị Th đi nước ngoài tới nay cháu V ở với bà và được bà chăm sóc, được đi học và phát triển bình thường, con gái bà là chị Hoàng Thị Th vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình và thường xuyên gửi tiền về cho bà và gia đình để nuôi dưỡng chăm sóc cháu V.

Tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Văn S vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Hoàng Thị Th vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn S. Xử cho anh Trần Văn S được ly hôn chị Hoàng Thị Th. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thị Hồng V cho chị Hoàng Thị Th nuôi dưỡng. Anh Trần Văn S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn S là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh Trần Văn S. Đối với bị đơn chị Hoàng Thị Th vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh B đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn chị Hoàng Thị Th theo thủ tục chung.

[2]. Về thẩm quyền: Anh Trần Văn S là nguyên đơn có đơn xin ly hôn chị Hoàng Thị Th, chị Th hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, địa chỉ cuối cùng của chị Th ở Việt Nam là: Thôn Khuyên Quéo, xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B.

[3]. Về quan hệ Hôn nhân: Anh Trần Văn S và chị Hoàng Thị Th có đăng ký kết hôn ngày 21/7/2004 tại UBND xã Biển Đ, huyện Lục Ng, tỉnh B. Đây là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy tình cảm giữa anh S và chị Th đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn S. Xử cho anh Trần Văn S được ly hôn chị Hoàng Thị Th.

[4]. Về con chung: Anh Trần Văn S và chị Hoàng Thị Th có 02 con chung là cháu Trần Văn H (đã trưởng thành) và cháu Trần Thị Hồng V sinh ngày 12/6/2004. Giao con chung là cháu Trần Thị Hồng V cho chị Hoàng Thị Th là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục đến khi con chung tròn 18 tuổi.

[5]. Về tài sản, công nợ: Anh Trần Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Anh Trần Văn S phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Văn S được ly hôn với chị Hoàng Thị Th.
  2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Trần Thị Hồng V, sinh ngày 12/6/2004 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Anh Trần Văn S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số AA/2018/0000723 ngày 26/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B. Xác nhận anh S đã nộp đủ.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Trần Văn S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Chị Hoàng Thị Th vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
  • - VKSND tỉnh B;
  • - Cục THADS tỉnh B;
  • - UBND xã Biển Động, huyện Lục Ng.;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Trần Thị Hà
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN


Trần Thanh Bình     Nguyễn Thị Bích
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


Trần Thị Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2021/HNGĐ-ST ngày 28/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh B về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 14/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/01/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh B
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger