|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH D Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH D
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Bá Quyền;
- Ông Lê Quang Xẹt.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình D.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng– Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên T5 hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 454/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa 08/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: Số a đường T, khu phố L, phường H, thị xã U, tỉnh D; Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phan Văn Thái D, sinh năm 1968; địa chỉ: Số a đường T, khu phố L, phường H, thị xã U, tỉnh D; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 11 năm 2020; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông D tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1990 và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 17-3-2003 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Tân Uyên (Nay là huyện Bắc Tân Uyên), tỉnh Bình D. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, yêu T1 nhau. Đến năm 2015, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Từ năm 2015 đến nay, vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó, bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông D.
+ Về con chung: Có ba con chung tên Phan Thị Nhân T1, sinh ngày 21-01-1991, Phan Nhân T2, sinh năm 21-9-1992, Phan Nhân T3, sinh ngày 28-3-1994 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; hai con chung Phan Nhân T4, sinh ngày 04-8-2004 và Phan Nhân T5, sinh ngày 24-5-2008 chưa thành niên. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi hai con chung tên Phan Nhân T4 và Phan Nhân T5 và không yêu cầu ông Phan Văn Thái D cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Phan Văn Thái D đã được tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông D không tham gia trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người T5 hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, cụ thể như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Phan Văn Thái D.
+ Về con chung: Giao hai con chung chưa thành niên Phan Nhân T4, sinh ngày 04-8-2004 và Phan Nhân T5, sinh ngày 24-5-2008. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
+ Vấn đề tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về sự vắng mặt của bị đơn - ông Phan Văn Thái D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng ông D vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Phan Văn Thái D chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 17-3-2003 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Tân Uyên (Nay là huyện Bắc Tân Uyên), tỉnh Bình D. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà T yêu cầu ly hôn với ông D do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông D tham gia tố tụng nhưng ông D không tham gia và không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T, chứng tỏ, ông D không còn quan T2 đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng như gìn giữ hạnh phúc gia đình. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Có hai con chung chưa thành niên Phan Nhân T4, sinh ngày 04-8-2004 và Phan Nhân T5, sinh ngày 24-5-2008. Xét thấy, kể từ thời điểm bà T, ông D không còn chung sống với nhau thì cháu T4 và cháu T5 sống cùng với bà T, đồng thời hai cháu có nguyện vọng sống cùng bà T, bà T cũng có nguyện vọng nuôi dưỡng các con. Do đó, cần giao cháu T4 và cháu T5 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 92, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 17, 19, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Phan Văn Thái D.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Phan Văn Thái D.
2.2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phan Nhân T4, sinh ngày 04-8-2004 và Phan Nhân T5, sinh ngày 24-5-2008 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con định kỳ: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T về việc không yêu cầu ông Phan Văn Thái D cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị T và Phan Văn Thái D đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
2.3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0052047 ngày 07-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình D.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình D (01); - VKSND tỉnh Bình D (01); - VKSND thị xã Tân Uyên (01); - THADS thị xã Tân Uyên (01); - Các đương sự (02); - Lưu: HS, VT (02). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Thị Mỹ Trúc |
Bản án số 14/2021/HNGĐ-ST ngày 17/03/2021 của Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình D về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 14/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình D
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
