Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 14 /2021/HNGĐ-PT
Ngày: 29-9-2021
V/v: Tranh chấp ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Lệ Thủy.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu; Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Thành Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 11/2021/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2021 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 17/2021/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2021/QĐ-PT ngày 08-6-2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐ-PT ngày 24-6-2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐ-PT ngày 20-7-2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 23-9-2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1993; Cư trú: tổ 11, ấp X, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)
  • Bị đơn: Anh Nguyễn T, sinh năm 1988; Cư trú: tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)
  • Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị X là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 11-01-2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn T kết hôn ngày 20/4/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ; hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại ấp T, xã P, huyện Đ; chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm đầu, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do anh T gia trưởng, cấm không cho chị X giao tiếp với bạn bè, nghi ngờ ghen tuông vô cớ; không tin tưởng chị trong chi tiêu sinh hoạt gia đình buộc chị phải liệt kê các khoản mua sắm. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2021, chị X dẫn con về sống với cha mẹ và anh chị không còn quan tâm đến nhau. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị X được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Thị K, sinh ngày 16-7-2013, hiện cháu đang sống cùng chị X. Khi ly hôn chị X đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh T cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn theo như lời trình bày của chị X là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng sống tại ấp T, xã P, huyện Đ; cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 01 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do chị X thường xuyên nhắn tin điện thoại người lạ nên anh T có ghen tuông, vợ chồng cự cãi bất hòa, chị X dẫn con về sống tại nhà cha mẹ vợ. Riêng lời khai chị X cho rằng anh gia trưởng, nhỏ nhen yêu cầu chị liệt kê tiền đi chợ mua sắm là không có. Sau khi sống ly thân, anh T vẫn có thiện chí khuyên chị X đưa con về nhà đoàn tụ nhưng chị X không đồng ý. Anh T cho rằng vợ chồng mâu thuẫn không lớn, anh sẽ tự sửa chữa, khắc phục nhược điểm để vợ chồng đoàn tụ lo cho con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị X.

Về con chung: Anh T và chị X 01 con chung, hiện đang sống cùng chị X. Nếu phải ly hôn anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con. Anh T hiện làm cơ khí ngoài giàn khai thác dầu, cứ tháng làm tháng nghỉ, thu nhập là 27.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T và chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 17/2021/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về việc xin ly hôn với anh Nguyễn T.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15-4-2021 nguyên đơn chị Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị X được ly hôn với anh Nguyễn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị X nộp trong thời hạn và hợp lệ theo quy định tại các điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị X.

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn T tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới vào năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ vào ngày 20-4-2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh T là hợp pháp. Nhận thấy, trong thời gian chung sống vợ chồng anh T chị X phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mất niềm tin về kinh tế và tình cảm dẫn đến việc anh chị thường xuyên xảy ra tranh cãi và có những lời lẽ xúc phạm nhau. Từ tháng 01 năm 2021 đến nay, anh T và chị X sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X.

[2.2]. Về con chung: Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T và chị X xác nhận có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị K, sinh ngày 16-7-2013. Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là có căn cứ chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị X, sửa bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 17/2021/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về việc “Tranh chấp ly hôn” với anh Nguyễn T.
    • Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X được ly hôn với Nguyễn T.
    • Về con chung: Chị Nguyễn Thị X được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị K, sinh ngày 16-7-2013 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Nguyễn T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị X, anh T đều không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND huyện Đ;
- TAND huyện Đ;
- Chi cục THA DS huyện Đ;
- Các đương sự;
- Lưu: Tòa HNGĐ, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)



Lý Thị Lệ Thủy
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2021/HNGĐ-PT ngày 29/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 14/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị XD kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận cho chị được ly hôn với anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger