Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 14/2021/DS-PT

Ngày: 24/03/2021

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Hà Nam

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Như; Ông Ngôn Ngọc Viên

Thư ký phiên tòa: Ông Nông Hữu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Triệu Thị Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2020/TLPT-DS ngày 13/10/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2020/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2020/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1950; Địa chỉ: Xóm R, xã S, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
    - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Sầm C; Địa chỉ: Tổ z, phường T thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
    - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đ – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Đ. Địa chỉ: Số nhà xx, tổ 22, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • - Bị đơn: Bà Mã Thị B; sinh năm: 1957; Địa chỉ: Xóm R, xã S, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân (UBND) huyện F, tỉnh Cao Bằng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Bế Đặng E – Chủ tịch UBND huyện F; Người được ủy quyền: Ông Lục Minh G – Phó phòng Tài nguyên môi trường. Vắng mặt có lý do.
    2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn H – Giám đốc. Người được ủy quyền: Ông Đoàn Ngọc I. Có mặt.
    3. Hạt kiểm lâm huyện F tỉnh Cao Bằng. Đại diện theo pháp luật: Ông Nông Văn K – Hạt trưởng; ủy quyền cho ông Nông Văn L. Có mặt.
    4. Ông Hoàng Văn M, sinh năm: 1958; Địa chỉ: Xóm R, xã S, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
    5. Ông Vương Sầm N, Địa chỉ: Xóm R, xã S, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • - Người làm chứng:
    • Ông Đàm Văn O, sinh năm: 1964;
    • Bà Hoàng Thị P, sinh năm: 1960;
    • Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1970;
    Cùng địa chỉ: Xóm R, xã S, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Những người làm chứng đều có mặt.
  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2020, bản tự khai và phiên hòa giải nguyên đơn Bà Nguyễn Thị A trình bày: Về nguồn gốc đất tranh chấp: Trước năm 1994 là đất chung của Lâm Trường, sau năm 1994 nhà nước có chính sách giao đất cho dân quản lý, sử dụng đất Lâm nghiệp, nên gia đình tôi đã có đơn đề nghị Uỷ ban nhân dân (UBND) xã S và Uỷ ban nhân dân huyện F đã ban hành quyết định số 330/QĐ – UB ngày 17/3/1997 giao rừng và đất Lâm nghiệp để quản lý sử dụng lâu dài thuộc Khoảnh IV tại lô 26 diện tích 22.000 m2 tại địa điểm xóm Bản Tấn, xã S, huyện F, tỉnh Cao Bằng.

Về quá trình sử dụng đất: Từ năm 1997, sau khi nhận đất rừng theo quyết định gia đình tôi đã quản lý đất rừng và cây rừng trên đất, đồng thời còn trồng thêm cây rừng mới gồm thông và sa mộc... Tuy nhiên phần đất tranh chấp bây giờ lý do trên đất không có cây sa mộc là do thời điểm mới trồng đã bị trâu ăn mất.

Về nguyên nhân tranh chấp: Do bà B tự cho đất và cây rừng có diện tích khoảng 1000 m2 là của bà B (là diện tích nằm trong lô đất 26 của tôi) nên ngày 26/12/2019 bà B tự ý cho người đến khai thác gỗ trên đất rừng của tôi dẫn đến tranh chấp...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị A khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp, nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp “Quyền sử dụng đất lâm nghiệp” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa An theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo được gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy kháng cáo của đương sự là hợp pháp.

[3] Về nội dung: Căn cứ vào Biên bản thẩm định, thực địa đất tranh chấp, sơ đồ đo vẽ ngày 18/5/2020 và các lời trình bày của những người làm chứng, HĐXX thấy rằng bà A không được quản lý, sử dụng trên phần đất tranh chấp, đã sử dụng trồng rừng hết phần đất được giao, không có giấy tờ chứng minh quyền được sử dụng trên phần đất tranh chấp này. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận cho yêu cầu của nguyên đơn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bác đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị A, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2020/DS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng.

Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A đối với 1000 m2; (diện tích thực tế khi thẩm định tại chỗ là: 1569m2 ranh giới giữa hai thửa 26 và thửa 27b khoảnh IV) đất đang tranh chấp tại xóm Hạnh Phúc, Xã Hoàng Tung huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng.
  2. Bị đơn bà B tiếp tục được quản lý, sử dụng phần đất đã được nhận theo Hợp đồng giao đất.
  3. Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị A phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị A phải chịu tiền chi thẩm định tại chỗ là 3.800.000đ.

Án xử phúc thẩm công khai có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh;

- CCTHADS huyện Hòa An;

- TAND huyện Hòa An;

- Các bên đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Toà DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nông Hà Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2021/DS-PT ngày 24/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp

  • Số bản án: 14/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2020, bản tự khai và phiên hòa giải nguyên đơn Bà Nguyễn Thị A trình bày: Về nguồn gốc đất tranh chấp: Trước năm 1994 là đất chung của Lâm Trường, sau năm 1994 nhà nước có chính sách giao đất cho dân quản lý, sử dụng đất Lâm nghiệp, nên gia đình tôi đã có đơn đề nghị Uỷ ban nhân dân (UBND) xã S và Uỷ ban nhân dân huyện F đã ban hành quyết định số 330/QĐ – UB ngày 17/3/1997 giao rừng và đất Lâm nghiệp để quản lý sử dụng lâu dài thuộc Khoảnh IV tại lô 26 diện tích 22.000 m2 tại địa điểm xóm Bản Tấn, xã S, huyện F, tỉnh Cao Bằng. Về quá trình sử dụng đất: Từ năm 1997, sau khi nhận đất rừng theo quyết định gia đình tôi đã quản lý đất rừng và cây rừng trên đất, đồng thời còn trồng thêm cây rừng mới gồm thông và sa mộc theo nội dung Hợp đồng với ban quản lý Dự án 5 triệu Ha rừng, hợp đồng số: 1241/HDDA ngày 10/01/1999 về giao khoán quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Khi trồng cây tôi đã trồng đến hết ranh giới đất được giao, thuộc quyền quản lý sử dụng của mình tại lô đất số 26, tuy nhiên phần đất tranh chấp bây giờ lý do trên đất không có cây sa mộc là do thời điểm mới trồng đã bị trâu ăn mất. Về nguyên nhân tranh chấp: Do bà B tự cho đất và cây rừng có diện tích khoảng 1000 m2 là của bà B (là diện tích nằm trong lô đất 26 của tôi) nên ngày 26/12/2019 bà B tự ý cho người đến khai thác gỗ trên đất rừng của tôi dẫn đến tranh chấp, khi gia đình tôi ngăn cản thì bị bà B, con gái, con rể có hành vi chửi bới, lăng mạ, sử dụng hung khí dao đe dọa chém, giết. Nay tôi yêu cầu Tòa án căn cứ với những trình bày trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tôi. Tôi không nhất trí thỏa thuận với gia đình bị đơn, và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn M.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger